Chính sách của Nhà nước về dự trữ quốc gia

Dự trữ quốc gia là dự trữ vật tư, thiết bị, hàng hóa; tài nguyên; khoáng sản chiến lược, quan trọng; năng lượng quốc gia; sản phẩm công nghệ cao do Nhà nước quản lý để thực hiện mục tiêu dự trữ quốc gia.

Luật Dự trữ quốc gia được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 11 tháng 12 năm 2025. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định về dự trữ chiến lược có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027. Luật quy định cụ thể về mục tiêu, chính sách của Nhà nước về dự trữ quốc gia cụ thể như sau:

1. Nhà nước hình thành, quản lý, sử dụng dự trữ quốc gia để thực hiện các mục tiêu sau:

- Chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, cứu đói; phục vụ quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm an sinh xã hội phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; phục vụ hoạt động của Đảng và Nhà nước.

- Huy động, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế để thực hiện tự chủ chiến lược quốc gia; là công cụ điều tiết thị trường để bảo đảm nền kinh tế vận hành ổn định, hiệu quả theo quy luật thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Chính sách của Nhà nước về dự trữ quốc gia

- Nhà nước có chiến lược dự trữ quốc gia, quy hoạch tổng thể hệ thống kho dự trữ quốc gia phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

- Dự trữ quốc gia được quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất; phân công, phân cấp quản lý, điều hành phù hợp với lĩnh vực, địa bàn theo mục tiêu dự trữ quốc gia.

- Nguồn lực dự trữ quốc gia được tích hợp trong các chiến lược về quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an sinh xã hội; bảo đảm phân tích, dự báo, nắm tình hình để chủ động chuẩn bị các nguồn lực dự trữ quốc gia.

- Bảo đảm nguồn lực cho dự trữ quốc gia, cơ cấu hợp lý, phù hợp với đặc thù và lợi ích chiến lược của đất nước trong từng thời kỳ, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước; giao đất, cho thuê đất, xây dựng hệ thống kho dự trữ quốc gia phù hợp với quy hoạch tổng thể hệ thống kho dự trữ quốc gia.

- Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động nguồn lực xã hội để các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoạt động dự trữ quốc gia.

- Nhà nước ưu tiên đầu tư, nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực dự trữ quốc gia để hiện đại hóa hoạt động dự trữ quốc gia.

- Chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế, trao đổi, chia sẻ nguồn lực trong hoạt động dự trữ quốc gia bảo đảm lợi ích và chủ quyền quốc gia.

3. Các hành vi bị cấm về dự trữ quốc gia

- Lợi dụng việc nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, vận chuyển hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược để trục lợi.

- Thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định về quản lý dự trữ quốc gia gây hư hỏng, thất thoát, lãng phí tài sản thuộc dự trữ quốc gia.

- Cản trở, can thiệp trái pháp luật trong hoạt động dự trữ quốc gia.

- Sử dụng hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược sai mục đích./.

Tác giả: Thúy Vi