QUY ĐỊNH MỚI VỀ VĂN BẰNG, CHỨNG CHỈ CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

Ngày 26/02/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/2026 và thay thế nhiều văn bản trước đó như Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT, Thông tư 27/2019/TT-BGDĐT, Thông tư 16/2020/TT-BGDĐT cùng nhiều quyết định liên quan đến mẫu bằng, chứng chỉ.

1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quy chế này quy định về quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, gồm: nguyên tắc quản lý, cấp văn bằng, chứng chỉ; quyền và trách nhiệm của người được cấp văn bằng, chứng chỉ, người có thẩm quyền cấp và cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ; nội dung, ngôn ngữ ghi trên văn bằng, chứng chỉ, phụ lục văn bằng; cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ; cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc; lập và lưu trữ hồ sơ quản lý văn bằng, chứng chỉ. Quy chế này áp dụng đối với Sở Giáo dục và Đào tạo, cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

2. Các loại văn bằng, chứng chỉ

Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản dưới dạng giấy hoặc số, được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; hoặc hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục và các luật sửa đổi, bổ sung liên quan.

Văn bằng gồm: bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; bằng trung học nghề, trung cấp, cao đẳng; bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù (như kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ, dược sĩ và các văn bằng khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản dưới dạng giấy hoặc số, được cấp để xác nhận kết quả học tập sau đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hoặc sau kỳ thi cấp chứng chỉ theo quy định của pháp luật.

Văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới hai hình thức: bản giấy và bản số. Văn bằng, chứng chỉ số được cấp từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc của cơ quan được phân cấp; có giá trị pháp lý như văn bằng, chứng chỉ giấy. Thông tin trích xuất từ cơ sở dữ liệu có giá trị như thông tin trong sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ.

Việc ký, cấp, sử dụng văn bằng, chứng chỉ số; cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu; cũng như việc cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ số được thực hiện theo quy định và lộ trình chuyển đổi số do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

3. Nguyên tắc quản lý văn bằng, chứng chỉ

Việc quản lý văn bằng, chứng chỉ được thực hiện thống nhất theo quy định của Quy chế. Văn bằng, chứng chỉ phải có số hiệu và được ghi vào sổ gốc cấp văn bằng, chứng chỉ.

Các trường thông tin chính cần cập nhật trên cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ được quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư.

Hồ sơ quản lý văn bằng, chứng chỉ gồm các tài liệu theo quy định của Quy chế và được lưu trữ theo quy định của pháp luật.

4. Thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ

Thẩm quyền cấp văn bằng được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và các luật sửa đổi, bổ sung gồm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Thẩm quyền cấp chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện theo các quy định của pháp luật nêu trên và theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các chương trình đào tạo, bồi dưỡng hoặc kỳ thi cấp chứng chỉ.

Đối với chương trình đào tạo, bồi dưỡng không quy định cấp chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, thủ trưởng cơ sở giáo dục, thủ trưởng cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp quyết định việc xác nhận hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho người học.

5. Quyền và trách nhiệm của người được cấp văn bằng, chứng chỉ

Được người có thẩm quyền: cấp văn bằng, chứng chỉ đúng thời hạn quy định; ghi chính xác, đầy đủ các thông tin trên văn bằng, chứng chỉ; cấp lại văn bằng, chứng chỉ hoặc chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ theo quy định tại Quy chế này;

Được cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc;

Tra cứu văn bằng, chứng chỉ đã được cấp trên cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ.

Cung cấp chính xác, đầy đủ các thông tin dữ liệu cá nhân cơ bản, cần thiết để cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ ghi nội dung trên văn bằng, chứng chỉ và cập nhật vào cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ;

Kiểm tra tính chính xác các thông tin ghi trên văn bằng, chứng chỉ trước khi ký nhận văn bằng, chứng chỉ giấy hoặc khi nhận được văn bằng, chứng chỉ số;

Phải có giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật cho người nhận văn bằng, chứng chỉ khi không trực tiếp đến nhận văn bằng, chứng chỉ;

Giữ gìn, bảo quản văn bằng, chứng chỉ; không được tẩy xóa, sửa chữa các nội dung trên văn bằng, chứng chỉ; không được cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ;

Sử dụng quyết định chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ kèm theo văn bằng, chứng chỉ sau khi được chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ;

Trình báo cho cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ và cơ quan công an nơi gần nhất khi bị mất văn bằng, chứng chỉ;

Nộp lại văn bằng, chứng chỉ cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi văn bằng, chứng chỉ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi văn bằng, chứng chỉ. Trường hợp văn bằng, chứng chỉ có quyết định thu hồi nhưng bị mất, phải cam kết bằng văn bản về việc bị mất văn bằng, chứng chỉ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam kết.

6. Nội dung và ngôn ngữ ghi trên văn bằng, chứng chỉ

Nội dung ghi trên từng loại văn bằng, chứng chỉ được quy định cụ thể tại các phụ lục ban hành kèm theo Thông tư.

Ngôn ngữ ghi trên văn bằng, chứng chỉ là tiếng Việt. Trường hợp ghi thêm tiếng nước ngoài thì nội dung phải chính xác, phù hợp với nội dung tiếng Việt và kích cỡ chữ tiếng nước ngoài không lớn hơn kích cỡ chữ tiếng Việt.

7. Điều khoản chuyển tiếp

Các mẫu văn bằng, chứng chỉ và bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc được ban hành, phê duyệt trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31 tháng 8 năm 2026.

Đính kèm Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT

Tác giả:  Anh Thư