Tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị trên địa bàn thành phố Cần Thơ

 

Ngày 07/5/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành Kế hoạch số 210/KH-UBND thực hiện Chương trình số 17-CTr/TU ngày 21/3/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị.

Kế hoạch được ban hành nhằm quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị và Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của toàn Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền; cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chương trình số 17-CTr/TU thành các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của thành phố, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số. Nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và an ninh dữ liệu trên địa bàn, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ, sự cố an ninh mạng.

Tại Kế hoạch quy định các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 như sau:

 1. Kiện toàn Tiểu ban An toàn, an ninh mạng thành phố, trong đó Trưởng Tiểu ban là Bí thư Thành ủy;

 2. Các cơ quan chủ quản các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin trên địa bàn thành phố có trách nhiệm: (i) Rà soát, khắc phục tổng thể về an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu đối với hệ thống thông tin theo tiêu chuẩn TCVN 14423: 2025 và nguồn nhân lực thuộc phạm vi quản lý; (ii) Triển khai giám sát an ninh mạng tại cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; (iii) Báo cáo định kỳ và đột xuất kết quả, tiến độ và mức độ tuân thủ về cơ quan có thẩm quyền; kiến nghị biện pháp hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và phân bổ nguồn lực khi cần; (iv) Xác định trách nhiệm của người đứng đầu về an ninh mạng;

3. Nâng cao năng lực của Đội ứng cứu sự cố an ninh mạng bảo đảm an toàn thông tin mạng thành phố; thiết lập kênh kết nối trao đổi thông tin, dữ liệu phục vụ giám sát, điều phối ứng cứu, khắc phục sự cố an toàn thông tin, an ninh mạng;

4. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn triển khai các quy định pháp luật mới, tài liệu về kiểm tra, đánh giá, bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin cho các cơ sở dữ liệu, hệ thống dùng chung trong hệ thống các cơ quan, đơn vị; định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quy định đảm bảo an ninh mạng, an toàn thông tin;

5. Tổ chức thẩm định, phê duyệt cấp độ đối với toàn bộ hệ thống thông tin trọng yếu của thành phố. Đối với hạ tầng và các hệ thống đang xây dựng hoặc sẽ triển khai trong thời gian tới, yêu cầu bắt buộc phải thực hiện phê duyệt cấp độ an toàn thông tin trước khi đưa vào vận hành chính thức. Đối với các hệ thống thông tin và hạ tầng hiện đang sử dụng, cần khẩn trương rà soát, đánh giá và thực hiện phê duyệt cấp độ an toàn thông tin theo đúng quy định;

 6. Phối hợp các đơn vị có liên quan rà soát, xem xét ban hành hoặc điều chỉnh quy hoạch để phù hợp hạ tầng công nghệ thông tin tổng thể từ thành phố đến các địa phương theo hướng tập trung, chuẩn hoá trung tâm dữ liệu.

Ngoài ra, tại Kế hoạch cũng quy định các nhiệm vụ đến năm 2030 như sau:

1. Xây dựng, hoàn thiện thế trận an ninh mạng và hạ tầng kỹ thuật:

 - Đầu tư xây dựng Trung tâm An ninh mạng thành phố do Công an thành phố quản lý, vận hành, bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Công an. Thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát với Trung tâm An ninh mạng quốc gia; bảo đảm 100% hệ thống thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước trên địa bàn thành phố được bảo vệ theo mô hình 4 lớp và được giám sát an toàn thông tin 24/7;

- Rà soát, sắp xếp lại hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng tập trung; kiên quyết thu hồi, loại bỏ các hệ thống thông tin, máy chủ đơn lẻ không đáp ứng tiêu chuẩn an ninh mạng. Đối với hệ thống chính quyền địa phương cấp xã, thực hiện mô hình quản lý tập trung từ thành phố, hạn chế tối đa việc lưu trữ dữ liệu quan trọng tại thiết bị đầu cuối ở cơ sở;

- Thực hiện nghiêm quy định: hồ sơ thiết kế hệ thống thông tin, dự án chuyển đổi số phải có cấu phần an ninh mạng (chiếm tối thiểu 15% tổng mức đầu tư) và phải được thẩm định, phê duyệt về mặt an ninh mạng trước khi đầu tư xây dựng. Hệ thống chưa bảo đảm an toàn tuyệt đối thì không đưa vào vận hành;

 - Tổ chức rà soát, kiểm tra, đánh giá định kỳ công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng; tăng cường phối hợp chặt chẽ, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng chuyên trách trong bảo vệ an ninh mạng toàn hệ thống chính trị.

2. Nâng cao nhận thức cho toàn hệ thống chính trị và người dân trên địa bàn thành phố:

- Triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức an ninh mạng trên nền tảng “Bình dân học vụ số”;

- Đẩy mạnh truyền thông đại chúng và trên mạng xã hội cho người dân kỹ năng nhận diện, phòng, chống lừa đảo, tiếp nhận và xử lý phản ánh sự cố;

- Nghiên cứu đưa các nội dung kiến thức, kỹ năng cơ bản về an ninh mạng vào chương trình giáo dục phổ thông (từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông), giáo dục nghề nghiệp và đại học;

 - Triển khai, hướng dẫn thực hiện các giải pháp định danh và đánh giá tín nhiệm mạng các tổ chức, cá nhân có ảnh hưởng trên không gian mạng theo quy định từ Trung ương; củng cố lòng tin, trách nhiệm của người dân khi hoạt động, tương tác, làm việc trên không gian mạng;

- Đưa tiêu chí bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu vào đánh giá xếp loại thi đua, khen thưởng của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng “Công dân số”:

- Xây dựng cơ chế đặc thù thu hút chuyên gia an ninh mạng chất lượng cao về làm việc tại thành phố; phối hợp với các học viện, trường đại học tổ chức đào tạo, huấn luyện thực chiến định kỳ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách;

- Triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”: tích hợp nội dung an ninh mạng vào chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh các cấp (từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông), giáo dục nghề nghiệp và đại học;

- Phát huy vai trò của Tổ Công nghệ số cộng đồng, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ trong việc “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, hướng dẫn người dân kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân, sử dụng dịch vụ công an toàn và phòng, chống tin giả;

- Xử lý triệt để tình trạng SIM “rác”, tài khoản “ảo”, nặc danh; đẩy mạnh xác thực danh tính điện tử (VNeID) nhằm xây dựng môi trường mạng lành mạnh, văn minh.

4. Xây dựng và hoàn thiện thể chế, khung pháp lý:

- Nghiên cứu, phối hợp tham gia góp ý kiến với Bộ, ngành Trung ương trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng, chuyển đổi số, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu và các văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi trong triển khai;

- Xây dựng, điều chỉnh tiêu chuẩn và mô tả vị trí việc làm theo từng lĩnh vực quản lý; bổ sung yêu cầu về kỹ năng số phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và công cụ làm việc của từng vị trí, trên cơ sở tham chiếu Khung năng lực số quốc gia và các quy định pháp luật hiện hành;

 - Phối hợp với Bộ, ngành Trung ương rà soát và cập nhật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, bảo mật thông tin, đối với các hệ thống thông tin của các cơ quan, đơn vị của thành phố mà có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và đời sống Nhân dân;

- Hoàn thiện các cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị của thành phố, nhằm bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu hiệu quả.

 5. Bảo đảm nguồn lực tài chính và công nghệ:

- Sở Tài chính tham mưu bố trí đầy đủ và kịp thời kinh phí cho công tác an ninh mạng. Trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, ưu tiên phân bổ vốn cho các dự án an ninh mạng trọng điểm;

- Ưu tiên sử dụng các sản phẩm, giải pháp an ninh mạng “Make in Vietnam” trong các cơ quan nhà nước; khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn thành phố tham gia nghiên cứu, phát triển các sản phẩm an ninh mạng.

6. Bảo đảm nguồn nhân lực:

- Xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu, huấn luyện thực tế về công tác an ninh mạng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, đãi ngộ chuyên gia tham gia phục vụ công tác an ninh mạng quốc gia;

- Triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng giám sát, điều tra, ứng phó sự cố, bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo mật và tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển trong an ninh mạng;

 - Tăng cường nhân lực bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu cho Sở, ban, ngành và các địa phương theo quy định.

7. Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh mạng: Triển khai hiệu quả, thực chất Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm mạng năm 2025 (Công ước Hà Nội). Tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra tội phạm mạng xuyên quốc gia; cử cán bộ đi đào tạo, huấn luyện chuyên sâu nâng cao trình độ chuyên môn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mạng tại nước ngoài hoặc do các cơ quan, tổ chức quốc tế phối hợp với Bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành phố tổ chức tại thành phố Cần Thơ.

(Đính kèm Kế hoạch số 210/KH-UBND)./.

Tác giả: Hồng Vân