Chương trình thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Ngày 06/01/2026, Thành ủy Cần Thơ ban hành Chương trình 09-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (viết tắt là Nghị quyết số 70-NQ/TW). Theo đó, mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2045 được nêu tại Chương trình 09-CTr/TU  như sau:

1. Mục tiêu tổng quát đến năm 2030: Thành phố Cần Thơ bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trên địa bàn, đáp ứng đầy đủ, ổn định và chất lượng cao nhu cầu năng lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước thực hiện chuyển đổi năng lượng phù hợp với định hướng phát triển của đất nước và các cam kết quốc tế về giảm phát thải. Ngành năng lượng của thành phố phát triển hài hòa giữa các lĩnh vực, gắn với xây dựng hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Phát triển thị trường năng lượng minh bạch, cạnh tranh, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tại chỗ, kết hợp hài hòa với nguồn năng lượng nhập khẩu. Từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị, công nghệ năng lượng; xây dựng, hiện đại hóa hệ thống truyền tải và phân phối năng lượng theo hướng thông minh, an toàn, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

- Đẩy mạnh phát triển các loại hình nguồn điện; hoàn thành và đưa vào vận hành các dự án nguồn điện theo Quy hoạch, nhất là các dự án tại Trung tâm Điện lực Ô Môn, đảm bảo nguồn cung điện ổn định, đặc biệt là từ nguồn điện khí; tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 12 - 14 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất các nguồn điện khoảng 10 - 12 GW hoặc có thể cao hơn tùy thuộc vào nhu cầu hệ thống và tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo thời kỳ; tổng sản lượng điện khoảng 50 - 70 tỷ kWh. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 20 - 25%.

- Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng khoảng 8 - 10 triệu tấn dầu quy đổi.

- Hiện đại hóa hệ thống lưới điện truyền tải và phân phối, đảm bảo khả năng kết nối và hấp thụ tối đa nguồn điện từ các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt tại các khu vực ven biển; đảm bảo cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng; xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, tích hợp công nghệ số hóa để quản lý và vận hành hiệu quả.

- Tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đạt khoảng 8 - 10% so với kịch bản phát triển bình thường. Giảm cường độ năng lượng trên GDP của thành phố ở mức phù hợp.

- Kiểm soát chặt chẽ phát thải khí nhà kính và các chất gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt động năng lượng. Tăng cường sử dụng năng lượng sạch, thân thiện với môi trường. Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 15 - 35%.

3. Tầm nhìn đến năm 2045: Đảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trên địa bàn; phát triển thị trường năng lượng minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngành năng lượng của thành phố phát triển đồng bộ, bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống hạ tầng năng lượng được xây dựng hiện đại, thông minh, kết nối hiệu quả với các khu vực; chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học - công nghệ và năng lực quản trị trong lĩnh vực năng lượng không ngừng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị trung tâm vùng và hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, có 07 nhiệm vụ, giải pháp được nêu tại Chương trình 09-CTr/TU  như sau:

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia của cả hệ thống chính trị và Nhanadaan trong bảo đảm an ninh năng lượng.

- Hoàn thiện thể chế, chính sách để trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển năng lượng.

- Phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng.

- Đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện linh hoạt cam kết quốc tế về giảm phát thải; thiết lập các biện pháp quản trị và ứng phó với rủi ro.

- Tập trung huy động mọi nguồn lực xã hội, khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân tham gia phát triển năng lượng.

- Tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng.

- Tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Nội dung chi tiết được nêu tại Chương trình 09-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố.

                                                                        Tác giả: Quốc Lai