Chương trình thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Ngày 06/01/2026, Thành ủy Cần Thơ ban hành Chương trình 10-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (viết tắt là Nghị quyết số 71-NQ/TW). Theo đó, mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2045 được nêu tại Chương trình 10-CTr/TU như sau:

1. Mục tiêu đến năm 2030

- Mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông của thành phố, phấn đấu đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Xây dựng, sắp xếp mạng lưới trường, lớp học cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thuộc mọi đối tượng, nhất là tại các vùng còn khó khăn, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số; có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và phổ cập giáo dục bắt buộc đến hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành chương trình trung học phổ thông và tương đương, không có xã, phường đạt dưới 60%. Thành phố Cần thơ đạt kết quả bước đầu về nâng cao năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và năng lực tiếng Anh ở bậc giáo dục phổ thông theo quy định. Chỉ số giáo dục đóng góp vào Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%.

- Xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu vai trò thành phố Cần Thơ là trung tâm giáo dục và đào tạo của vùng. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp phù hợp và đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, có cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%. Tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%. Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%. Chỉ số vốn con người và năng lực nghiên cứu đóng góp vào Chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Việt Nam, tiến tới ngang bằng với các nước có thu nhập trung bình cao.

- Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của vùng và quốc gia. Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học của thành phố đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài đáp ứng yêu cầu các ngành, lĩnh vực trọng điểm; thực hiện tuyển dụng giảng viên giỏi từ nước ngoài đạt chỉ tiêu được giao. Tăng bình quân 12%/năm đối với số công bố khoa học quốc tế, nguồn thu từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; 16%/năm đối với số đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế.

2. Mục tiêu đến năm 2035 Hệ thống giáo dục và đào tạo của thành phố tiếp tục được hiện đại hóa, có bước tiến vững chắc về khả năng tiếp cận, công bằng và chất lượng. Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và các cấp học tương đương; chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,85; chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) vượt mức bình quân của các thành phố lớn trong nước có thu nhập trung bình cao.

3. Tầm nhìn đến năm 2045 Đến năm 2045, thành phố Cần Thơ phấn đấu xây dựng một hệ thống giáo dục hiện đại, tiên tiến, công bằng, chất lượng cao và hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của thành phố và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước, góp phần xây dựng thành phố Cần Thơ là thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại, phấn đấu thuộc nhóm thành phố phát triển khá của Châu Á, trở thành thành phố đáng sống của Việt Nam. Phấn đấu để giáo dục và đào tạo thực sự trở thành động lực then chốt, góp phần đưa thành phố Cần Thơ nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu phát triển kinh tế - xã hội, văn minh, hiện đại của cả nước.

Bên cạnh đó, có 08 nhiệm vụ và giải chủ yếu được nêu cụ thể tại Chương trình 10-CTr/TU như sau:

1. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo: Tổ chức quán triệt, học tập sâu rộng nội dung Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị trong toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị, xem đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên và lâu dài. Tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo; coi phát triển giáo dục và đào tạo là động lực then chốt, quốc sách hàng đầu, là một đột phá chiến lược của thành phố.  Đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ sở giáo dục với kết quả triển khai nhiệm vụ giáo dục; đưa kết quả này vào tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và cán bộ lãnh đạo.

2. Hoàn thiện thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo: Thực hiện rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng đột phá, thực chất, hiệu quả và bền vững; đảm bảo phù hợp với điều kiện đặc thù của Cần Thơ - trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thực hiện chính sách đãi ngộ, tôn vinh, trọng dụng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhà khoa học và nhân tài trong lĩnh vực giáo dục theo quy định. Cụ thể, thực hiện phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực khó khăn, và xa trung tâm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng ven biển. Xây dựng và triển khai các chính sách phù hợp nhằm huy động được người giỏi ngoài lực lượng nhà giáo tham gia giảng dạy, huấn luyện trong các cơ sở giáo dục; thực hiện chế độ giảng viên kiêm nhiệm cho những cá nhân xuất sắc đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; thiết lập cơ chế khuyến khích huy động người giỏi chủ trì các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo tại các cơ sở giáo dục. Xây dựng cơ chế đặc thù cho thành phố trong tự chủ đại học, giáo dục nghề nghiệp, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế. Đảm bảo chi ngân sách địa phương cho giáo dục và đào tạo đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước của thành phố. - Triển khai hiệu quả “Chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035”. Mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi cho học sinh, sinh viên, học viên đảm bảo không có ai phải bỏ học vì điều kiện tài chính. - Hoàn thiện chính sách tài chính giáo dục công khai, minh bạch, hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, thu hút nguồn lực của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức quốc tế trong phát triển cơ sở vật chất, học liệu và môi trường giáo dục.

3. Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới: Tập trung rà soát, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bảo đảm yêu cầu giáo dục đạo đức, nhân cách và hình thành hệ giá trị chuẩn mực con người Cần Thơ trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Phân định rõ vai trò, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, nhân cách và hệ giá trị chuẩn mực con người Cần Thơ; đề cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.  Xây dựng và cụ thể hóa chuẩn mực con người Cần Thơ trong thời đại mới, tích hợp xuyên suốt trong chương trình giáo dục các cấp học. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng con người Cần Thơ phát triển toàn diện cả về đức, trí, thể, mỹ, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo, nuôi dưỡng tình yêu gia đình, yêu quê hương, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống nhân ái, trung thực, trách nhiệm, có khát vọng, làm việc hiệu quả, góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố. Xây dựng văn hóa học đường lành mạnh, an toàn và thân thiện; phát động phong trào thi đua xây dựng “văn hóa chất lượng, thực học, thực nghiệp”, chú trọng bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, ý thức nêu gương của đội ngũ nhà giáo; kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong dạy và học. Triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới chấm dứt bạo lực học đường, tệ nạn ma túy học đường; phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Đội, Hội phụ huynh, tổ chức xã hội trong giáo dục học sinh. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng mô hình “Trường học hạnh phúc” trên địa bàn thành phố. Tăng cường và thực hiện thực chất cơ chế phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội; ban hành quy chế phối hợp cụ thể, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể. Gia đình là nền tảng, nhà trường là trung tâm, xã hội cùng chung tay hỗ trợ, tạo môi trường giáo dục thống nhất, đồng bộ, hiệu quả. Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và dinh dưỡng học đường; đổi mới chương trình giáo dục thể chất, tăng cường các hoạt động thể thao ngoại khóa, mở rộng dạy bơi, phòng chống đuối nước, xây dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh. Ban hành các quy định, tiêu chuẩn về dinh dưỡng học đường phù hợp từng cấp học, nhằm nâng cao thể chất, tầm vóc, sức khỏe cho học sinh, góp phần đào tạo thế hệ trẻ Cần Thơ phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.

4. Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo: Tập trung xây dựng hạ tầng và nền tảng số đồng bộ, hiện đại, bảo đảm kết nối an toàn, thông suốt trong toàn ngành giáo dục. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ, đảm bảo 100% cơ sở giáo dục kết nối internet tốc độ cao, an toàn, ổn định. Triển khai Đề án phát triển hệ sinh thái giáo dục số thành phố Cần Thơ, trong đó chú trọng xây dựng các nền tảng giáo dục thông minh, kho học liệu số dùng chung, sách giáo khoa điện tử và giáo trình thông minh, đáp ứng yêu cầu dạy - học trong môi trường số. Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành giáo dục và đào tạo thống nhất, phục vụ cho chuyển đổi số và phát triển nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát; đồng thời, bảo đảm nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, phần mềm quản lý để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số toàn diện. Thúc đẩy phổ cập kỹ năng số và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý, điều hành, tổ chức dạy học ở mọi cấp học, cơ sở giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá và quản trị giáo dục trên nền tảng công nghệ số. Khuyến khích và hỗ trợ giáo viên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; phát triển các hình thức giáo dục cá nhân hóa, giáo dục thích ứng theo năng lực và nhu cầu của người học. Tiếp tục triển khai hiệu quả các mô hình trường học số; lớp học thông minh, quản trị giáo dục thông minh, từng bước hình thành mô hình quản trị dữ liệu mở, minh bạch, thời gian thực, phục vụ công tác chỉ đạo và hoạch định chính sách giáo dục. Nâng cao năng lực số và năng lực trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và người học. Xây dựng, ban hành và triển khai chuẩn năng lực số và chuẩn năng lực AI cho giáo viên, học sinh, sinh viên, bảo đảm thiết thực, khả thi. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng sử dụng công nghệ mới cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; đồng thời nghiên cứu, thí điểm đưa kiến thức, kỹ năng về năng lực số và trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục phổ thông, phù hợp từng cấp học, từng lứa tuổi, hướng đến mục tiêu hình thành công dân số Cần Thơ thời đại mới.

5. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông: Bảo đảm đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu. Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có phẩm chất, năng lực nghề nghiệp vững vàng, bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với nghề. Thực hiện nghiêm các quy định về tuyển dụng, bố trí, sử dụng và quản lý viên chức, giáo viên tại các cơ sở giáo dục công lập theo đúng định mức, chỉ tiêu được giao. Đồng thời, triển khai các biện pháp điều chuyển giáo viên hợp lý giữa các địa phương để khắc phục tình trạng thừa - thiếu cục bộ, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện. Tập trung huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực kiên cố hóa, hiện đại hóa hệ thống trường, lớp học; bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị đạt chuẩn. Ưu tiên đầu tư xây dựng phòng học thực hành, phòng trải nghiệm STEM/STEAM, không gian sáng tạo, sân chơi, khu rèn luyện thể chất, tạo môi trường giáo dục hiện đại, thân thiện, an toàn. Hoàn thành xây dựng mạng lưới trường phổ thông dân tộc nội trú tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước năm 2030, bảo đảm điều kiện học tập bình đẳng và công bằng trong tiếp cận giáo dục. Tiếp tục rà soát, sắp xếp và phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông phù hợp quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn mới. Bảo đảm đủ trường, lớp, đáp ứng yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày đối với các cấp học phổ thông, kiên cố hóa, hiện đại hóa hệ thống trường trung học phổ thông chuyên, từng bước đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các trường chuyên theo hướng ươm tạo và phát triển nhân tài cho thành phố. Phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập chất lượng cao, bảo đảm hài hòa giữa công lập và ngoài công lập, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của Nhân dân. Tập trung hoàn thành phổ cập và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, xây dựng lộ trình cụ thể thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi. Duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, xóa mù chữ mức độ 2, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2, phấn đấu đạt chuẩn mức độ 3. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các cơ sở giáo dục ngoài công lập; siết chặt kỷ cương, nề nếp, bảo đảm chất lượng và môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ. Chú trọng giáo dục toàn diện về tư tưởng, truyền thống, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, hướng nghiệp và kỹ năng mềm. Tăng cường thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật, nghiên cứu đưa nội dung năng lực số và trí tuệ nhân tạo (AI) vào chương trình giáo dục phổ thông. Tổ chức rà soát, đánh giá việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông; thực hiện chủ trương một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc, phấn đấu đến năm 2030 cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực, tư duy độc lập, sáng tạo của người học, chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực. Tiếp tục đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bảo đảm trung thực, khách quan, thực chất; thực hiện đồng bộ các giải pháp chấn chỉnh, khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan. Tăng cường dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh; xây dựng và triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn thành phố Cần Thơ, đồng thời mở rộng giảng dạy ngôn ngữ các nước láng giềng phù hợp đặc thù vùng. Nâng cao chuẩn năng lực tiếng Anh cho giáo viên và học sinh ở tất cả các cấp học; bảo đảm đủ đội ngũ, đủ điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ, ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo trong dạy và học ngoại ngữ; mở rộng giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh tại những nơi có điều kiện, góp phần nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo của thành phố.

6. Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao: Tập trung cải cách toàn diện và hiện đại hóa hệ thống giáo dục nghề nghiệp, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố. Triển khai sắp xếp, tổ chức lại hệ thống các trường cao đẳng, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đạt chuẩn, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và xu thế hội nhập quốc tế. Nghiên cứu, thí điểm mô hình đào tạo trung học nghề tương đương trung học phổ thông, nhằm đẩy mạnh phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, bảo đảm lộ trình học tập, rèn luyện và phát triển nghề nghiệp liên thông, linh hoạt, thực chất. Hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả cơ chế, chính sách thúc đẩy mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - Nhà nước - người học, tạo hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, gắn với nhu cầu thị trường lao động và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của thành phố. Đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo, thực tập nghề nghiệp, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng lao động. Ưu tiên bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước cho đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, du lịch, thương mại, dịch vụ - những ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho thanh niên, lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số ở các ngành nghề phù hợp, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và có khả năng tạo việc làm bền vững.  Ban hành và thực thi chính sách thu hút chuyên gia, người lao động có tay nghề cao tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành, chuyển giao kỹ năng nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo, đánh giá kỹ năng nghề. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trung tâm đào tạo nội bộ, cơ sở thực hành kỹ năng, góp phần gắn kết giữa sản xuất - đào tạo - nghiên cứu - khởi nghiệp. Nghiên cứu xây dựng cơ chế hình thành Quỹ đào tạo nhân lực doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp hỗ trợ đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo và mô phỏng trong đào tạo nghề, từng bước chuyển đổi sang mô hình giáo dục nghề nghiệp thông minh, bảo đảm người học được tiếp cận kỹ năng nghề hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của thành phố.

7. Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo: Tập trung đầu tư phát triển Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ trở thành cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trọng điểm của thành phố; có năng lực, điều kiện tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện đại hóa chương trình đào tạo theo chuẩn khu vực và quốc tế, chú trọng phát triển các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ, cùng các ngành mới, mũi nhọnnhư trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ vật liệu mới, tự động hóa và chuyển đổi số. Đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, gắn với các lĩnh vực đặc thù và thế mạnh của thành phố như nông nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học, môi trường, năng lượng tái tạo. Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ rào cản, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm khoa học, công nghệ. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, địa phương và các tổ chức quốc tế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu - ứng dụng - khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Cần Thơ. Thực hiện cơ chế phân bổ ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ gắn với năng lực, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học; khuyến khích xã hội hóa và huy động nguồn lực đầu tư nghiên cứu. Đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học; phát triển các mô hình vườn ươm công nghệ, trung tâm khởi nghiệp - đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng thực tiễn và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của thành phố. - Mở rộng các chương trình, đề án phát triển đội ngũ giảng viên đại học; tăng cường chế độ hỗ trợ cho giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ trong và ngoài nước. Đồng thời, xây dựng chính sách thu hút, trọng dụng giảng viên, nhà khoa học xuất sắc, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước với cơ chế, chính sách đãi ngộ vượt trội, tạo môi trường học thuật năng động, sáng tạo, góp phần nâng cao vị thế và chất lượng giáo dục đại học thành phố.

8. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Khuyến khích và tạo cơ chế thuận lợi để các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn tăng cường hợp tác, liên kết quốc tế, không ngừng nâng cao năng lực quản lý, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Thúc đẩy liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục, đại học uy tín của nước ngoài, triển khai các chương trình đồng cấp bằng, chuyển tiếp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục. Khuyến khích giảng dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các đơn vị có điều kiện; đẩy mạnh đào tạo song ngữ, nâng cao năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, phù hợp với điều kiện thực tiễn thành phố. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, sinh viên tham gia học tập, nghiên cứu, trao đổi học thuật ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước; ưu tiên đào tạo giảng viên trình độ tiến sĩ, chuyên gia kỹ thuật, công nghệ cao trong các lĩnh vực trọng điểm. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động giới thiệu, quảng bá tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ra thế giới, góp phần tăng cường hiểu biết, giao lưu văn hóa và củng cố sức mạnh mềm quốc gia. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đầu tư, tài trợ, hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo. Khuyến khích chuyên gia, giảng viên, tình nguyện viên quốc tế trực tiếp tham gia giảng dạy tiếng Anh, chuyển giao tri thức và kỹ năng quản trị giáo dục tại thành phố. Đồng thời, đẩy mạnh thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, nghiên cứu tại Cần Thơ, đặc biệt trong các lĩnh vực có thế mạnh như nông nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học, môi trường và y tế cộng đồng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế giáo dục của thành phố trên trường quốc tế.

                                                                        Tác giả: Văn Dũng