Để chứng minh nơi cư trú khi không còn Sổ hộ khẩu bản giấy:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 62/2021/NĐ-CP về việc kết nối, chia sẻ, cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu trong Cơ sở dữ liệu về cư trú như sau:
"Điều 13. Kết nối, chia sẻ, cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu trong Cơ sở dữ liệu về cư trú
1. Cơ sở dữ liệu về cư trú được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu Căn cước công dân. Căn cứ theo số định danh cá nhân của công dân, các thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu về cư trú được chia sẻ cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư gồm:
a) Nơi thường trú;
b) Nơi tạm trú;
c) Tình trạng khai báo tạm vắng;
d) Nơi ở hiện tại;
đ) Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ và các thành viên hộ gia đình;
e) Quan hệ với chủ hộ."
Như vậy, khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về cư trú đi vào hoạt động và được kết nối, chia sẻ, khai thác sử dụng chung với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, công dân được sử dụng số định danh cá nhân để xác định thông tin nhân thân, thông tin về nơi cư trú.
Đồng thời, việc sử dụng thông tin về công dân trong Cơ sở dữ liệu về cư trú sẽ được bảo đảm an toàn theo quy định tại KHOẢN 1 Điều 14 Nghị định 62/2021/NĐ-CP như sau:
"Điều 14. Sử dụng, sao lưu, phục hồi dữ liệu về cư trú
1. Việc sử dụng thông tin về công dân trong Cơ sở dữ liệu về cư trú phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư của công dân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin về cư trú của công dân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao hoặc giải quyết thủ tục hành chính."
Phòng Nghiệp vụ 1-STP

