Ngày 02 tháng 4 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 06/2026/TT-BYT quy định về mã hóa bệnh tật, nguyên nhân tử vong theo ICD-10 (ICD-10 là bảng phân loại quốc tế về bệnh tật, nguyên nhân tử vong phiên bản lần thứ 10 do Tổ chức Y tế Thế giới ban hành). Theo đó, từ ngày 01/7/2026 (ngày Thông tư số 06/2026/TT-BYT có hiệu lực thi hành) quy định hướng dẫn nguyên tắc áp dụng mã hóa bệnh theo ICD-10 như sau:
1. Các cột từ cột 1 đến cột 23 của Danh mục mã bệnh theo ICD-10 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 06/2026/TT-BYT cung cấp thông tin, dữ liệu về một mã bệnh cụ thể.
2. Các cột từ cột 24 đến cột 29 của Danh mục mã bệnh theo ICD-10 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 06/2026/TT-BYT được áp dụng cho từng mã ICD- 10 theo nguyên tắc như sau:
- Cột 24 xác định mã không được dùng là bệnh chính.
- Cột 25 xác định mã không được khuyến khích dùng là bệnh chính.
- Cột 26 xác định mã không được sử dụng vì có mã 4 hoặc 5 ký tự cụ thể hơn.
- Cột 27 xác định mã chỉ sử dụng để mã hóa nguyên nhân tử vong.
- Cột 28 xác định mã chỉ có hoặc chủ yếu có ở nữ giới.
- Cột 29 xác định mã chỉ có hoặc chủ yếu có ở nam giới.
3. Quy định chung về một số thuật ngữ:
- Bệnh chính là bệnh hoặc tình trạng bệnh lý mà người bệnh phải đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để khám bệnh, chữa bệnh và được chẩn đoán xác định khi kết thúc lượt khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp có nhiều bệnh hoặc nhiều tình trạng bệnh lý thì bệnh hoặc tình trạng bệnh lý nào phải sử dụng nhiều nguồn lực (chi phí, dịch vụ, nhân lực) nhất được xác định là bệnh chính. Trường hợp không đưa ra được chẩn đoán xác định bệnh thì những triệu chứng chính hoặc rối loạn, bất thường được xác định là bệnh chính.
- Bệnh kèm theo là những bệnh cùng tồn tại với bệnh chính ở thời điểm người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để khám bệnh, chữa bệnh hoặc bệnh tiến triển hoặc được phát hiện trong quá trình điều trị bệnh chính, có ảnh hưởng đến việc chăm sóc và điều trị cho người bệnh, dẫn đến việc kéo dài thời gian nằm viện hoặc phải sử dụng thêm nguồn lực.
- Biến chứng là bệnh hoặc hội chứng hoặc tình trạng bệnh lý xuất hiện trong quá trình điều trị do hậu quả của bệnh tật, chấn thương, can thiệp y khoa trước đó hoặc do tiến triển xấu đi của bệnh trong quá trình điều trị.
- Di chứng là tình trạng bệnh lý còn lại của bệnh tật, chấn thương, can thiệp y khoa sau khi đã được điều trị hoặc do ảnh hưởng lâu dài của một bệnh hoặc tổn thương xảy ra sau điều trị.
4. Kỹ thuật mã hóa bệnh tật trong quá trình triển khai áp dụng được thực hiện theo hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật của Bộ Y tế./.
Lê Thị Liếu - Sở Tư pháp
