Ngày 24 tháng 4 năm 2026, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua Nghị quyết số 27/2026/QH16. Nghị quyết đề ra mục tiêu, định hướng Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 gồm:
Mục tiêu tổng quát: Nâng cao hiệu quả đầu tư công, tạo sức lan tỏa, dẫn dắt, thu hút tối đa các nguồn vốn ngoài nhà nước cho đầu tư phát triển, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững; phát huy vai trò của đầu tư công là một trong các động lực tăng trưởng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, đồng bộ, hiện đại phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Đổi mới quản lý đầu tư công, thực hiện phân bổ, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, năng lực cơ sở hạ tầng tăng thêm, mức độ cải thiện đời sống và an sinh xã hội mà nhân dân được thụ hưởng.
Mục tiêu cụ thể: Tỷ trọng vốn đầu tư công so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 20 - 22% (mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân/GDP là 40%); Tỷ trọng chi đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước; Phấn đấu giải ngân vốn đầu tư công đạt tỷ lệ trên 95% kế hoạch vốn được giao; Bố trí vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước theo hướng tập trung, trọng điểm, giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021 - 2025.
Định hướng:
(i) Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành đưa các công trình vào khai thác sử dụng, phát huy hiệu quả thực tế. Tập trung đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài;
(ii) Đầu tư công phải bám sát và phục vụ việc thực hiện tốt các mục tiêu, định hướng của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 của quốc gia, ngành, lĩnh vực, địa phương và các quy hoạch quốc gia, vùng, ngành, tỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt; lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt, huy động các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước, đẩy mạnh hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng chiến lược;
(iii) Bảo đảm cơ cấu đầu tư hợp lý, hiệu quả giữa các vùng, miền, lĩnh vực, trong đó ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho các vùng động lực, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực chịu ảnh hưởng lớn bởi thiên tai, bão lũ và các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
(iv) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và tạo đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng văn hoá, giáo dục, thể thao, trong đó:
- Đến năm 2030, cả nước có tối thiểu 5.000 km đường bộ cao tốc; tập trung đầu tư, xây dựng các trục giao thông đường bộ cao tốc quan trọng, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ 3 cao trên trục Bắc - Nam, hệ thống đường sắt đô thị ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế và các cảng biển trung chuyển quốc tế; phấn đấu hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trước năm 2030.
- Xây dựng, hoàn thiện hạ tầng số bảo đảm đồng bộ, hiện đại cho chuyển đổi số quốc gia; phát triển các nền tảng số quốc gia, tiện ích kỹ thuật số thiết yếu đáp ứng yêu cầu Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, trung tâm dữ liệu lớn bảo đảm kết nối liên thông, tích hợp, chia sẻ và khai thác phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số.
- Đầu tư các chương trình, nhiệm vụ, dự án quốc phòng, an ninh, tư pháp, văn hóa, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, sạt lở bờ sông, bờ biển, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, chuyển đổi xanh.
Về tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030: là 8.220.000 tỷ đồng.
Tại Nghị quyết trên, Quốc hội đề ra 08 giải pháp triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 gồm:
Một là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về đầu tư công nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng, giải ngân vốn đầu tư công đáp ứng yêu cầu kiến tạo môi trường phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, phân bổ vốn đầu tư công tập trung, tránh dàn trải, manh mún. Ngân sách trung ương tập trung đầu tư các công trình hạ tầng chiến lược, kết nối liên vùng, khu vực và quốc tế, các dự án có tính chất đột phá về phát triển kinh tế - xã hội. Địa phương chủ động quyết định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối nguồn lực, phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn, theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Ba là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân công, phân nhiệm, cá thể hóa trách nhiệm đi đôi với phối hợp, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nghiêm minh. Kiểm soát thời gian bố trí vốn hoàn thành dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước, tập trung đầu tư hoàn thành dứt điểm các dự án, công trình đã được phê duyệt, đang triển khai dở dang; giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021 - 2025.
Bốn là, nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án, bảo đảm tính sẵn sàng của dự án, hạn chế phải điều chỉnh trong quá trình triển khai, bảo đảm hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô, tổng mức đầu tư của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức và quy định của pháp luật.
Năm là, rà soát, kiên quyết loại bỏ những dự án kém hiệu quả, dự án chưa thật sự cần thiết, cấp bách, ưu tiên vốn cho các dự án trọng điểm, cấp bách, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững.
Sáu là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, hậu kiểm, xử lý nghiêm vi phạm; kiểm soát chặt chẽ mục tiêu, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, lợi ích nhóm. Thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư công.
Bảy là, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đầu tư công với đầu tư xã hội. Triển khai các giải pháp hiệu quả để huy động các nguồn lực ngoài nhà nước cho đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược, trọng điểm.
Tám là, quản lý chặt chẽ việc sử dụng khoản vốn dự phòng 10% kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương. Khoản vốn dự phòng chưa phân bổ chi được sử dụng khi bảo đảm được cân đối nguồn vốn và bố trí cho các mục tiêu thật sự cần thiết, cấp bách theo quy định của pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước...
(Kèm theo Nghị quyết số 27/2026/QH16)
Tác giả: Nguyễn Phương
