Về giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Điều 23 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP) quy định: (i) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp: (ii) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác; (iii) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.
Về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Quy định này cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu.
Tác giả: Việt Phương
