Quy định mới về Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức

Ngày 19/1/2026 Chính phủ đã ban hành Nghị định 27/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức"

Quy định về việc xây dựng và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) với những điểm đáng chú ý cụ thể:

- Hồ sơ điện tử và Mã định danh duy nhất:

+ Hồ sơ điện tử bao gồm Sơ yếu lý lịch điện tử và các thành phần khác được tạo lập từ dữ liệu CBCCVC.

+ Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh hồ sơ điện tử cho mỗi CBCCVC. Mỗi người chỉ có một hồ sơ điện tử gắn mã định danh duy nhất.

- Sơ yếu lý lịch điện tử:

+ Được tạo lập đồng thời và gắn với hồ sơ điện tử. Mã số sơ yếu lý lịch sử dụng thống nhất với mã định danh hồ sơ điện tử.

+ Nguồn dữ liệu được lấy từ dữ liệu về CBCCVC, cấu trúc phù hợp với quy định pháp luật về quản lý hồ sơ.

- Trách nhiệm cập nhật hồ sơ:

+ CBCCVC có trách nhiệm thường xuyên cập nhật thông tin cá nhân khi có thay đổi và chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của dữ liệu.

+ Cơ quan sử dụng có trách nhiệm cập nhật dữ liệu phát sinh từ nghiệp vụ quản lý (thay đổi vị trí, phụ cấp...) và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi phát sinh.

+ Dữ liệu từ các hệ thống khác cũng được đồng bộ định kỳ hoặc ngay sau khi hoàn thành quy trình nghiệp vụ.

- Sử dụng và giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử:

+ Hồ sơ điện tử có giá trị thay thế hồ sơ giấy trong công tác quản lý CBCCVC.

+ Khi cần hồ sơ giấy (do yêu cầu nghiệp vụ), cơ quan quản lý thực hiện chuyển đổi từ hồ sơ điện tử sang bản giấy theo quy định về giao dịch điện tử. CBCCVC không phải chuẩn bị lại các thành phần hồ sơ đã có trong Cơ sở dữ liệu.

+ Cơ quan quản lý không được yêu cầu CBCCVC cung cấp lại thông tin đã có sẵn, trừ trường hợp cần thiết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp.

+ Việc truy cập hồ sơ điện tử yêu cầu sự đồng ý của cá nhân (trừ trường hợp phục vụ công tác cán bộ trong phạm vi thẩm quyền và phải bảo mật thông tin).

- Quản lý dữ liệu mật:

+ Dữ liệu, hồ sơ thuộc danh mục bí mật nhà nước được quản lý bằng các giải pháp, biện pháp bảo đảm bí mật theo đúng pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về cơ yếu./.

                                                  Tác giả: Ngọc Phụng