Quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia

Nghị quyết số 47/2025/NQ-HĐND ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia. Theo đó, Nghị quyết số 47/2025/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

* Sự cần thiết, mục đích ban hành:

- Sự cần thiết ban hành:

+ Cơ sở chính trị, pháp lý

 Căn cứ Kết luận số 70-KL/TW ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Bộ Chính trị về phát triển thể dục, thể thao trong giai đoạn mới yêu cầu: “Bổ sung, hoàn thiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chăm sóc y tế, nhà ở, tiền lương, trợ cấp, ưu đãi khác đối với vận động viên, huấn luyện viên, nhân tài trong lĩnh vực thể dục, thể thao”; “Tập trung phát triển thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao, hoàn thiện hệ thống phát hiện, đào tạo vận động viên, thi đấu thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao trình độ quốc gia, quốc tế, nhất là các môn thể thao Olympic trọng điểm. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vận động viên, huấn luyện viên, cán bộ thể dục, thể thao đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới…”

 Căn cứ mục 6 phần III Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: “Mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động thể thao quần chúng, cùng với việc đầu tư phát triển các môn thể thao mũi nhọn, thành tích cao; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút nguồn lực đầu tư xây dựng các thiết chế thể thao đạt tiêu chuẩn cấp vùng”;

Căn cứ điểm b khoản 7 Điều 15 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 nêu nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực giáo dục, y tế, lao động, văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao: “b) Quyết định chính sách, biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương; phát triển văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao tại địa phương theo quy định của pháp luật;”; điểm c khoản 1 Điều 15 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ... quyết định các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước”;

Căn cứ điểm l khoản 9 Điều 31 Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2026) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Quyết định các chế độ chi ngân sách để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an sinh xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với tình hình thực tế và khả năng cân đối của ngân sách địa phương”;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định: Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”; điểm c khoản 1 Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định: Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp khác có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp”;

Căn cứ điểm b khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 50 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15, quy định:

b) Trường hợp cấp bách để giải quyết vấn đề phát sinh trong thực tiễn;”;

đ) Thường trực Hội đồng nhân dân theo đề nghị của cơ quan trình quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân;…”.

Căn cứ khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, quy định: “Cơ quan, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn để xử lý các văn bản chịu sự tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 3 năm 2027

Kế hoạch số 40/KH-UBND ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ triển khai thực hiện Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn thành phố Cần Thơ; trong đó, đề ra nhiệm vụ và giải pháp phát triển thể thao thành tích cao:“Rà soát và điều chỉnh, sửa đổi và xây dựng các Nghị quyết, Quyết định, chương trình, quy định về cơ chế, chính sách, đầu tư, phát triển, thu hút, ưu đãi về cơ sở vật chất - kỹ thuật, hệ thống thiết chế thể dục thể thao, nhân lực, nhân tài trong hoạt động thể dục thể thao”; ưu tiên đầu tư chế độ, chính sách đặc thù cho lực lượng huấn luyện viên, vận động viên mũi nhọn được tuyển chọn từ các môn thể thao chủ đạo, trọng điểm và một số môn thể thao xã hội hóa, tạo bước đột phá trong nâng cao thành tích thi đấu tại các giải vô địch, các kỳ Đại hội thể thao trong nước, khu vực Đông Nam Á, Châu Á, thế giới và Olympic”.

+ Cơ sở thực tiễn:

Thể dục thể thao đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao sức khỏe cộng đồng, phát triển con người toàn diện. Trong đó, huấn luyện viên và vận động viên là những nhân tố trung tâm, trực tiếp tạo nên thành tích và truyền cảm hứng cho vận động viên trong suốt quá trình tập luyện và thi đấu. Sự cống hiến của huấn luyện viên và vận động viên đòi hỏi một quá trình tập luyện khắc nghiệt, đối mặt với nhiều rủi ro chấn thương và thường có tuổi nghề ngắn. Do đó, việc xây dựng quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia là vô cùng quan trọng để thu hút, nuôi dưỡng và giữ chân tài năng, đảm bảo huấn luyện viên, vận động viên yên tâm cống hiến trong tập luyện, thi đấu thể thao và có nguồn thu nhập ổn định bằng sự lao động chân chính từ sự nghiệp thể thao, cải thiện cuộc sống cho bản thân, gia đình. Từ đó, góp phần vào sự phát triển bền vững của thể thao thành phố; sự quan tâm, kịp thời ban hành và triển khai thực hiện tốt quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia  là tiền đề quan trọng để các huấn luyện viên, vận động viên gắn bó, phát huy tài năng thể thao bẩm sinh của bản thân góp phần đạt được những thành tích cao nhiều hơn nữa ở đấu trường quốc tế, quốc gia cho thành phố, đồng thời thúc đẩy phát triển mạnh mẽ phong trào tập luyện thể thao, rèn luyện sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân thành phố trong thời gian tới.

Trên cơ sở các quy định của Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ, vai trò quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng được tăng cường, đã thực sự góp phần vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của ngành thể thao. Công tác khen thưởng huấn luyện viên, vận động viên lập thành tích tại các giải thể thao kịp thời, thường xuyên, góp phần động viên tinh thần cho đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên tích cực trong tập luyện và thi đấu; đây cũng là nguồn động viên, khích lệ tinh thần và tạo được sự an tâm cho huấn luyện viên, vận động viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành nhiệm chung cho Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Vì vậy, chính sách này còn phù hợp và cần được kế thừa, duy trì cho những năm tiếp theo và cần thiết quy định áp dụng cho lực lượng huấn luyện viên, vận động viên thành phố Cần Thơ sau sáp nhập, tạo sự thống nhất, công bằng.

 Sau sáp nhập, Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ tiếp tục còn hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ (cũ) theo tinh thần Nghị quyết số 171/NQ-HĐND ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ về việc thông qua danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành trước sắp xếp đơn vị hành chính được lựa chọn tiếp tục áp dụng. Tuy nhiên, việc tiếp tục áp dụng Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ chỉ là giải pháp tạm thời trong khi chờ Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành Nghị quyết mới để áp dụng thống nhất cho chính quyền địa phương hai cấp sau sắp xếp.

 Nếu không kịp thời ban hành chính sách mới thay thế để áp dụng cho thành phố Cần Thơ (mới) sẽ ảnh hưởng đến tâm lý thi đấu của vận động viên, không công bằng, không thống nhất trong chính sách, cùng là vận động viên của thành phố Cần Thơ thi đấu đạt thành tích nhưng vận động viên thuộc Trung tâm Thể dục thể thao thành phố Cần Thơ (cũ) thì được hưởng chính sách theo Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND; các huấn luyện viên, vận động viên thuộc tỉnh Hậu Giang (cũ) và tỉnh Sóc Trăng (cũ) chưa có quy định về chế độ chi thưởng quốc tế và hỗ trợ ưu đãi nên không được hưởng chế độ.

Từ những cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn nêu trên, nhằm bảo đảm tính liên tục, thống nhất trong quản lý nhà nước, việc xây dựng Nghị quyết quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia là rất cần thiết và cấp bách.

- Mục đích ban hành

 Quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia nhằm đảm bảo quyền lợi cho huấn luyện viên, vận động viên, phù hợp với quy định và tình hình thực tiễn, góp phần hình thành một nền tảng pháp lý đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước, công tác đào tạo, huấn luyện và chuẩn bị lực lượng tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc năm 2026 và các giai đoạn tiếp theo; đồng thời, góp phần phát triển phong trào thể thao của thành phố;

 Đảm bảo sự công bằng, đoàn kết, ổn định tâm lý cho lực lượng huấn luyện viên, vận động viên của thành phố, tạo động lực cống hiến và phấn đấu.

* Nội dung chủ yếu:

Nghị quyết số 47/2025/NQ-HĐND ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố quy định mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia, gồm 06 điều, cụ thể:

Phạm vi và đối tượng áp dụng (Điều 1)

Phạm vi điều chỉnh: Nghị quyết này quy định chính sách mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các giải thể thao; mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia; áp dụng trên địa bàn thành phố Cần Thơ. 

 Đối tượng áp dụng:

 Huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành phố Cần Thơ (bao gồm: huấn luyện viên, vận động viên khuyết tật) được cơ quan có thẩm quyền cử đi thi đấu đạt thành tích tại các đại hội, giải thể thao quốc tế, quốc gia;

  Huấn luyện viên, vận động viên thể thao được cơ quan có thẩm quyền cử đi thi đấu đạt thành tích tại giải thể thao thành phố, giải thể thao cấp xã.

 Huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành phố Cần Thơ được cơ quan có thẩm quyền triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia.

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

- Mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các đại hôi, giải thi đấu thể thao (Điều 2)

 Mức thưởng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao lập thành tích khi tham gia thi đấu tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế:

Vận động viên khi lập thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế, ngoài tiền thưởng của Trung ương, được thưởng thêm tiền bằng 50% mức thưởng quy định tại Nghị định số 152/2018/NĐ-CP của Chính phủ

 Huấn luyện viên trực tiếp đào tạo vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế ngoài tiền thưởng của Trung ương được thưởng thêm tiền bằng 25% mức thưởng quy định tại Nghị định số 152/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

 Trường hợp vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thể thao quốc tế; đạt đẳng cấp và kỷ lục; ngoài mức thưởng theo điểm a khoản 1 Điều này, còn được hưởng mức thưởng hằng tháng (theo Phụ lục I đính kèm).   

 Mức thưởng cho huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các đại hội, giải thể thao các cấp:

 Đối với vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thể thao các cấp

Vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thể thao các cấp được hưởng mức thưởng bằng tiền (theo Phụ lục II đính kèm).

Vận động viên lập thành tích thi đấu trong các môn thể thao có nội dung thi đấu tập thể được hưởng mức thưởng bằng số lượng người được thưởng theo quy định của điều lệ giải nhân (x) với mức thưởng tương ứng quy định tại điểm a khoản này.

 Đối với huấn luyện viên trực tiếp đào tạo vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thể thao các cấp

Huấn luyện viên trực tiếp đào tạo vận động viên lập thành tích tại các đại hội, giải thể thao các cấp có nội dung thi đấu cá nhân thì được hưởng mức thưởng chung bằng mức thưởng đối với vận động viên.

Huấn luyện viên trực tiếp đào tạo đội tuyển thi đấu lập thành tích tại các đại hội, các giải có môn hoặc nội dung thi đấu tập thể thì được hưởng mức thưởng chung bằng mức thưởng đối với vận động viên đạt giải nhân (x) với số lượng huấn luyện viên, theo quy định như sau: Dưới 04 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 01 huấn luyện viên; từ 04 đến 08 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 02 huấn luyện viên; từ 09 đến 12 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 03 huấn luyện viên; từ 13 đến 15 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 04 huấn luyện viên; trên 15 vận động viên tham gia thi đấu, mức thưởng chung tính cho 05 huấn luyện viên.

 Đối với các môn, nội dung thi đấu mà thành tích thi đấu được sử dụng để xác định huy chương của các nội dung cá nhân và đồng đội được tính trong cùng một lần thi thì từ huy chương thứ hai trở lên, mức thưởng chung cho huấn luyện viên, vận động viên bằng số lượng người được thưởng nhân (x) với 50% mức thưởng tương ứng quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 điều 2.

- Mức hỗ trợ đối với huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia (Điều 3)

Huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia theo quyết định của cấp có thẩm quyền được hỗ trợ như sau:

 Triệu tập vào đội tuyển quốc gia: 170.000 đồng/người/ngày.

 Triệu tập đội tuyển trẻ quốc gia: 130.000 đồng/người/ngày.

(Thời gian hưởng không bao gồm thời gian tham gia thi đấu cho địa phương).

- Kinh phí thực hiện (Điều 4)

- Trách nhiệm thi hành (Điều 5)

- Hiệu lực thi hành (Điều 6)

(Đính kèm Nghị quyết số 47/2025/NQ-HĐND)

                                            Nguyễn Thị Hiếu - STP