Quy định về sử dụng, bảo quản và xử lý kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong xử lý vi phạm hành chính

Ngày 13 tháng 02 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính.

Theo đó, Nghị định này quy định sử dụng, bảo quản và xử lý kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong xử lý vi phạm hành chính, như sau:

Về sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ:

1. Việc sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ tuân thủ theo quy định tại Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chính và các quy định sau đây:

- Cơ quan, đơn vị sử dụng kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính có trách nhiệm bố trí nơi lưu trữ, thiết bị, phương tiện cần thiết và thực hiện các biện pháp kỹ thuật để bảo vệ, bảo quản an toàn, bảo mật thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật về lưu trữ và pháp luật có liên quan;

- Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được lưu vào hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính.

2. Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi nhận bằng văn bản, gồm các thông tin cơ bản sau:

- Tên cơ quan, đơn vị và chữ ký, họ tên của người sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ;

- Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm (trường hợp xác minh được);

- Bản ảnh, hình ảnh (đối với thiết bị ghi hình, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh); âm thanh (đối với thiết bị ghi âm);

- Chỉ số đo, phân tích (đối với phương tiện, thiết bị có chức năng đo lường, phân tích, kiểm định);

- Thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm;

- Hành vi vi phạm hoặc kết luận về kết quả đo lường, phân tích, kiểm định;

- Các thông tin khác liên quan đến hành vi vi phạm (nếu có).

3. Thời hạn sử dụng kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân được tính từ thời điểm phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ ghi nhận được kết quả cho đến hết ngày cuối cùng của thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Quá thời hạn nêu trên mà người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm không ra quyết định xử phạt theo thẩm quyền thì kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ không còn giá trị để làm căn cứ xử lý vi phạm.

Về xử lý kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ:

1. Khi có kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và thực hiện theo các bước sau:

- Xác định thông tin về tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính;

- Gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền để giải quyết vụ việc, trừ trường hợp người có thẩm quyền đã xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm và cá nhân, tổ chức có liên quan (nếu có) tại địa điểm, tuyến, địa bàn xảy ra hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính;

- Lập biên bản vi phạm hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ;

- Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức thi hành quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm trật tự, an toàn giao thông được thu thập bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ ở địa phương này nhưng đóng trụ sở, cư trú ở địa phương khác và không có điều kiện trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị nơi đã phát hiện để giải quyết vụ việc vi phạm trật tự, an toàn giao thông thì người có thẩm quyền đang thụ lý giải quyết vụ việc chuyển kết quả đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc cơ quan, đơn vị nơi tổ chức, cá nhân đóng trụ sở, cư trú hoặc nơi khác thuận lợi cho tổ chức, cá nhân giải quyết vụ việc vi phạm trật tự, an toàn giao thông (khi có đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật) để tiếp tục thực hiện các bước xử lý (Gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền để giải quyết vụ việc, trừ trường hợp người có thẩm quyền đã xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm và cá nhân, tổ chức có liên quan (nếu có) tại địa điểm, tuyến, địa bàn xảy ra hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính; lập biên bản vi phạm hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức thi hành quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật) theo quy định.

3. Văn bản thông báo yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền để giải quyết vụ việc, trừ trường hợp người có thẩm quyền đã xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm và cá nhân, tổ chức có liên quan (nếu có) tại địa điểm, tuyến, địa bàn xảy ra hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính có thể được gửi bằng phương thức điện tử đến tổ chức, cá nhân vi phạm trong trường hợp cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử phạt đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin; cá nhân, tổ chức vi phạm có phương tiện điện tử phù hợp, có khả năng tiếp cận việc thông báo thông qua phương thức điện tử.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2026./.

Tác giả: Việt Phương