Quy định về việc xác định phiếu bầu hợp lệ, phiếu bầu không hợp lệ, phiếu bầu hoặc không bầu cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Ngày 12/10/2025, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 21/2025/TT-BNV hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10/2025. Theo đó quy định về việc xác định phiếu bầu hợp lệ, phiếu bầu không hợp lệ, phiếu bầu hoặc không bầu cho người ứng cử và niêm phong và quản lý phiếu bầu sau khi kiểm phiếu như sau:

1. Xác định phiếu bầu hợp lệ, phiếu bầu không hợp lệ, phiếu bầu hoặc không bầu cho người ứng cử

- Phiếu bầu hợp lệ là phiếu phải đáp ứng tất cả các yêu cầu sau đây:

+ Phiếu do Tổ bầu cử phát ra và có dấu của Tổ bầu cử;

+ Phiếu bầu đủ số lượng đại biểu hoặc bầu ít hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử;

+ Phiếu không ghì thêm tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu không có ghi thêm nội dung khác.

- Phiếu bầu không hợp lệ là những phiếu bầu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

- Căn cứ khoản 2 Điều 74 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ bầu cử xem xét đối với các phiếu bầu được xác định là phiếu bầu không hợp lệ trong các trường hợp sau đây:

+ Phiếu có ghi thêm nội dung khác hoặc bị đánh dấu trên phiếu bầu;

+ Phiếu mà việc gạch tên đè lên hàng chữ họ và tên của người ứng cử quá mờ không thể nhận biết rõ ràng;

+ Phiếu bị hư, hỏng dẫn đến việc không thể xác định chính xác việc bầu cho những người ứng cử có ghi tên trên phiếu bầu;

+ Các trường hợp khác do Tổ trưởng Tổ bầu cử đề xuất.

- Về việc xác định phiếu bầu hoặc không bầu cho người ứng cử

+ Trường hợp phiếu bầu gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang nhưng gạch hết tất cả hàng chữ họ và tên của người ứng cử thì được tính là phiếu không bầu cho ứng cử viên đó;

+ Trường hợp cử tri không gạch cả hàng chữ họ và tên (chỉ gạch họ hoặc gạch tên đệm hoặc tên) của người ứng cử hoặc chỉ khoanh tròn, gạch dưới, gạch trên hàng chữ họ và tên của người ứng cử thì phiếu đó vẫn được tính là phiếu bầu cho người ứng cử đó;

+ Trường hợp trong phiếu bầu cử mà người ứng cử vừa có tên khai sinh vừa có tên thường gọi hoặc có chức vị, pháp danh, pháp hiệu theo tôn giáo, nếu cử tri chi gạch một dòng họ và tên khai sinh hoặc họ và tên thường gọi (chỉ gạch 1 dòng họ và tên khai sinh hoặc chức vị, pháp danh, pháp hiệu đối với chức sắc tôn giáo) thì phiếu đó được tính là phiếu không bầu cho người ứng cử đó.

2. Niêm phong và quản lý phiếu bầu sau khi kiểm phiếu

- Sau khi kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu, Tổ bầu cử tiến hành niêm phong phiếu bầu theo từng loại phiếu bầu đại biểu Quốc hội, phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp như sau:

+ Số phiếu bầu hợp lệ;

+ Số phiếu bầu không hợp lệ;

+ Số phiếu bầu không sử dụng đến, phiếu viết hỏng của cử tri.

- Toàn bộ số phiếu đã được niêm phong quy định tại khoản 1 Điều này phải được Tổ bầu cử cho vào hòm phiếu và làm thủ tục niêm phong hòm phiếu có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để quản lý, lưu trữ theo quy định, việc bàn giao hòm phiếu phải có biên bản giao nhận.

- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, lưu trữ các loại phiếu bầu, hòm phiếu của các Tổ bầu cử ở địa phương mình. Trong thời gian quản lý hòm phiếu (bao gồm các loại phiếu bầu) theo quy định pháp luật về lưu trữ (ít nhất là 05 năm) nếu không có ý kiến bằng văn bản của cấp có thẩm quyền thì tuyệt đối không được mở và kiểm tra phiếu bầu đã được niêm phong trong hòm phiếu. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện việc số hóa hồ sơ, tài liệu bầu cử sau khi tiếp nhận để phục vụ công tác tra cứu, khai thác, sử dụng về sau, bảo đảm nguyên tắc an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu theo quy định./.

Tác giả: Thúy Vi