Ngày 16/11/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thay thế Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013. Nghị định mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể, chặt chẽ hơn, nhằm đảm bảo đúng người, đúng thẩm quyền và trách nhiệm giải trình. Chủ yếu được quy định dựa trên nguyên tắc người có thẩm quyền xử phạt chính là người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hoặc người có thẩm quyền cao hơn quản lý trực tiếp.
1. Nguyên tắc chung về thẩm quyền
Việc xác định thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính căn cứ vào Điều 87 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành và các quy định chi tiết tại Nghị định số 296/2025/NĐ-CP.
Nguyên tắc cơ bản là: Người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định đó.
2. Các trường hợp cụ thể về thẩm quyền
Nghị định 296/2025/NĐ-CP làm rõ thêm thẩm quyền trong một số trường hợp đặc biệt:
- Trường hợp người ra quyết định xử phạt không còn chức danh, chức vụ:
+ Nếu người đã ra quyết định xử phạt không còn chức danh, chức vụ, hoặc đã chuyển công tác, nghỉ hưu, v.v., thì người đang giữ chức danh, chức vụ đó (người kế nhiệm) có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.
+ Trường hợp người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định cưỡng chế:
Trong trường hợp người đã ra quyết định xử phạt không ra quyết định cưỡng chế, thì thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người đó có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.
- Trường hợp Ủy ban nhân dân các cấp:
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt do mình ban hành.
+ Trong trường hợp người bị xử phạt vi phạm hành chính đã tự ý chuyển nơi cư trú, nơi đặt trụ sở, hoặc tẩu tán tài sản sang địa bàn khác, việc giao và phối hợp thực hiện cưỡng chế sẽ được thực hiện giữa các cơ quan chức năng, nhưng thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế ban đầu vẫn thuộc về Chủ tịch UBND nơi xảy ra vi phạm, sau đó sẽ phối hợp với UBND nơi đối tượng cư trú mới.
- Trường hợp cơ quan chuyên môn thuộc UBND: Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND (Ví dụ: Giám đốc Sở Y tế, Công an tỉnh,...) có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế đối với các quyết định xử phạt do mình ban hành.
3. Quy định mới về Trách nhiệm và Phối hợp
Nghị định mới nhấn mạnh vào trách nhiệm của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế:
- Trách nhiệm ban hành quyết định: Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế trên cơ sở theo dõi, đôn đốc hoặc đề xuất của người có thẩm quyền xử phạt.
- Phối hợp thực hiện: Đáng chú ý, Nghị định 296/2025/NĐ-CP bổ sung và làm rõ trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, đơn vị liên quan (như tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, công an, v.v.) trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả khi thực hiện các biện pháp kê biên tài sản, khấu trừ tài khoản, v.v.
Tóm lại, thẩm quyền cưỡng chế được cá thể hóa theo người đã ban hành quyết định xử phạt hoặc người kế nhiệm chức vụ đó, đảm bảo tính liên tục và trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính./.
