Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhiều chương trình, chính sách dân tộc đã được ban hành và tổ chức thực hiện, trong đó có Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành tại Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ, góp phần quan trọng làm thay đổi đáng kể bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm nhanh hơn tỷ lệ giảm nghèo chung cả nước. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; niềm tin vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ngày được nâng cao, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển còn chậm; kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực còn thấp; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, việc đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số nơi còn tiềm ẩn các yếu tố phức tạp, mất ổn định; bức xúc của người dân về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn vướng mắc chưa được giải quyết dứt điểm,...
Những hạn chế, yếu kém nêu trên, ngoài nguyên nhân khách quan, còn có nguyên nhân chủ quan là nhận thức về vai trò, vị trí công tác dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc, việc tổ chức thực hiện Chiến lược công tác dân tộc có nơi, có lúc chưa được quan tâm thỏa đáng; còn một số bộ, ngành chưa xây dựng và trình phê duyệt các đề án được giao tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược đúng tiến độ; xuất phát điểm kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thấp, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, không ổn định,...
Để đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngày 12 tháng 5 năm 2026 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 19/CT-TTg về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tại Chỉ thị trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm (gồm nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể).
Về nhiệm vụ chung của các bộ, ngành, địa phương
(1) Các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc; trọng tâm là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ về ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
(2) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc, thể chế hóa những quan điểm của Đảng về công tác dân tộc thành cơ chế, chính sách cụ thể. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc.
(3) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chủ động huy động, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án trên địa bàn, nhất là vùng đặc biệt khó khăn.
(4) Tập trung nguồn lực và có chính sách phù hợp đối với các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng biên giới và các dân tộc thiểu số rất ít người; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, góp phần củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
(5) Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng năm và có giải pháp cụ thể để hoàn thành các nhóm nhiệm vụ, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề ra; thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo hằng năm, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc.
Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, ngành và địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi:
(1) Bộ Dân tộc và Tôn giáo: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo hằng năm kết quả thực hiện Chiến lược công tác dân tộc; khẩn trương ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: từ năm 2026 - 2030; ưu tiên tập trung nguồn lực để thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc, giải quyết các vấn đề cấp thiết như: đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng xã hội thiết yếu để ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;...
(2) Bộ Tài chính: Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương, địa phương trình cấp có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định hiện hành.
(3) Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan và địa phương tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chính sách bố trí ổn định dân cư; phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các vùng khó khăn nhằm ổn định đời sống dân cư;…
(4) Bộ Nội vụ: Chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các bộ, cơ quan, địa phương liên quan tăng cường kiểm tra việc thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi trong việc đào tạo, quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là đối với cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số rất ít người và các dân tộc hiện có ít cán bộ;…
(5) Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí vùng dân tộc thiểu số và miền núi; nghiên cứu phương án nâng cấp, mở rộng quy mô các trường THPT ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực xã biên giới để tạo điều kiện học tập thuận lợi, thúc đẩy phát triển toàn diện và nâng cao tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp THCS tiếp tục theo học cấp THPT tại địa bàn...
(6) Bộ Y tế: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương rà soát, nghiên cứu, bổ sung chính sách đào tạo nguồn nhân lực y tế cho vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn; quan tâm đầu tư xây dựng, cải tạo cơ sở vật chất và cung cấp trang thiết bị thỏa đáng cho các cơ sở y tế tuyến xã tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...
Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện kế hoạch, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá sơ kết, tổng kết kết quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn...
Tác giả: Nguyễn Phương
