Hiện nay trên không gian mạng, chúng ta không khó để bắt gặp các trường hợp có hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, thực tế này gây bức xúc cho nhiều người, đây là hành vi trái pháp luật, nếu vi phạm thì phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Về xử lý hành vi này, pháp luật hiện đã có quy định và chế tài rất cụ thể.
1. Về xác định hành vi vi phạm
- Hành vi này vi phạm Điều 8 Luật An ninh mạng năm 2018, trong đó nghiêm cấm việc thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
- Đồng thời, vi phạm Điều 101 và Điều 102 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP), quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng.
2. Biện pháp xử lý hành chính
- Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022), quy định “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
- Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đã đăng tải trên mạng xã hội theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 101.
- Trường hợp hành vi có tính chất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rộng rãi, cần áp dụng biện pháp xử lý bổ sung như: đình chỉ hoạt động tài khoản, yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ mạng phối hợp ngăn chặn, khóa tài khoản vi phạm.
3. Biện pháp xử lý hình sự
Đối với các hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân,… thì tùy vào hành vi khách quan, khách thể, chủ thể của hành vi phạm tội cũng như hậu quả do hành vi đó gây ra mà Bộ luật Hình sự 2015 điều chỉnh, quy định trong nhiều điều luật với các tội phạm cụ thể như: Tội vu khống (Điều 156); Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159); Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân (Điều 331); Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước (Điều 337); Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước (Điều 338); Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác (Điều 361); Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 362)…
Khi có hành vi cụ thể xảy ra, dựa trên tính chất, mức độ và hậu quả, tác hại do hành vi đó gây ra, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự 2015, Nghị định 15/2020/NĐ-CP, Nghị định số 14/2022/NĐ-CP để đánh giá và có hình thức xử lý phù hợp.
4. Về công tác phòng ngừa
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội. Phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước, lực lượng Công an, nhà cung cấp dịch vụ mạng để giám sát, ngăn chặn, xử lý nhanh chóng các thông tin vi phạm. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng mạng xã hội văn minh, đúng pháp luật.
Tác giả: Ngô Hoàng Quân-Thanh tra Công an TPCT
