Ngày 10/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 316/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Năng lượng nguyên tử về nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tiến hành các hoạt động liên quan đến nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam.
Thiết kế nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu
1. Yêu cầu chung về thiết kế:
Bảo đảm việc thực hiện các chức năng an toàn cơ bản bao gồm: kiểm soát phản ứng hạt nhân dây chuyền; tải nhiệt từ vùng hoạt lò phản ứng và nơi lưu giữ nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, ngăn ngừa phát tán phóng xạ;
Áp dụng phương pháp tiếp cận có hệ thống để xác định các hạng mục quan trọng về an toàn và đặc tính an toàn nội tại, thực hiện hoặc có ảnh hưởng đến chức năng an toàn cơ bản đối với tất cả các trạng thái của nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu;
Bảo đảm khả năng thực hiện chức năng an toàn cơ bản với độ tin cậy cao, bảo đảm việc vận hành ổn định trong toàn bộ tuổi thọ theo thiết kế;
Đối với nhà máy điện hạt nhân, phải dựa trên kết quả phân tích an toàn tất định và phân tích an toàn xác suất để ngăn ngừa sự cố và giảm thiểu hậu quả nếu xảy ra;
Đối với lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, phải dựa trên kết quả phân tích an toàn tất định và kết quả phân tích an toàn xác suất (nếu có) theo phương pháp tiếp cận theo cấp độ;
Bảo đảm việc kiểm soát phát thải phóng xạ ra môi trường; lượng chất thải phóng xạ phát sinh trực tiếp từ hoạt động của nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu không vượt quá giới hạn quy định;
Tính đến kinh nghiệm thu được từ thiết kế, xây dựng và vận hành các nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu khác, cũng như kết quả của các chương trình nghiên cứu có liên quan;
Tính đến khả năng chấm dứt hoạt động, bao gồm: phương án tháo dỡ, xử lý chất thải phóng xạ và phục hồi môi trường; giảm thiểu lượng chất thải phát xạ sinh ra từ quá trình tháo dỡ;
Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh sát hạt nhân.
2. Nguyên tắc thiết kế về an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân:
Áp dụng nguyên tắc bảo vệ theo chiều sâu theo quy định tại Điều 4 Nghị định này;
Kết hợp các tính năng an toàn thụ động và chủ động;
Áp dụng tính độc lập, tính dự phòng, tính đa dạng, khả năng tự bảo vệ, khả năng khôi phục hoạt động sau sự cố, hạn chế sai hỏng cùng nguyên nhân;
Bảo đảm thuận lợi cho việc hiệu chuẩn, thử nghiệm, bảo trì, sửa chữa, thay thế, kiểm tra, theo dõi khả năng thực hiện chức năng và duy trì tính toàn vẹn của các hạng mục quan trọng về an toàn;
Tính đến các nguy hại bên trong và bên ngoài nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu có khả năng xảy ra, bao gồm cả khả năng nguy hại do con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra.
3. Nguyên tắc thiết kế về an ninh hạt nhân:
Thiết kế hệ thống bảo vệ thực thể phải tính đến các biện pháp kiểm soát tiếp cận, phát hiện, trì hoãn và ứng phó kịp thời đối với hành vi xâm nhập, phá hoại, đánh cắp vật liệu hạt nhân, bảo đảm áp dụng nguyên tắc bảo vệ theo chiều sâu;
Thiết kế hệ thống bảo vệ thực thể phải tính đến các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin, hệ thống điều khiển và thiết bị kỹ thuật số trước nguy cơ tấn công mạng và truy cập trái phép;
Thiết kế hệ thống bảo vệ thực thể phải dựa trên đánh giá các mối đe doạ, đồng thời áp dụng phương pháp tiếp cận theo cấp độ và đánh giá rủi ro;
Tích hợp việc xây dựng, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân, bảo đảm các biện pháp độc lập, không gây tác động bất lợi cho nhau.
4. Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng nhà máy điện hạt nhân theo pháp luật về xây dựng đối với dự án quan trọng quốc gia.
5. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết về yêu cầu an toàn đối với thiết kế nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; yêu cầu đối với hệ thống bảo vệ thực thể.
Phân tích an toàn và báo cáo phân tích an toàn
1. Phân tích an toàn phải được thực hiện nhằm đánh giá mức độ an toàn cho tất cả các trạng thái và chế độ vận hành của nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
2. Phân tích an toàn phải bao gồm các sự kiện phát sinh từ các nguy cơ bên trong, nguy cơ bên ngoài và quá trình có thể gây hư hỏng các lớp giam giữ chất phóng xạ hoặc làm tăng rủi ro rò rỉ phóng xạ ra môi trường.
3. Lựa chọn phân tích sự kiện khởi phát và các diễn biến tiếp theo phải dựa trên cơ sở phương pháp tiếp cận có tính hệ thống và logic. Phải cung cấp đầy đủ luận chứng cho việc xác định tất cả các kịch bản sự cố.
4. Báo cáo phân tích an toàn phải bao gồm các kết quả phân tích an toàn và thông tin khác nhằm đánh giá và chứng minh rằng nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân. Báo cáo phân tích an toàn là cơ sở để thẩm định, phê duyệt, cấp giấy phép hoặc đưa ra các quyết định quản lý cho từng giai đoạn của nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, đồng thời phục vụ công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra.
5. Cấu trúc và nội dung của báo cáo phân tích an toàn phải có tính nhất quán và liên tục giữa các giai đoạn từ phê duyệt địa điểm, cấp giấy phép xây dựng, vận hành thử và vận hành; mức độ chi tiết của báo cáo phân tích an toàn phải phù hợp với mức độ chi tiết của thông tin tại từng giai đoạn.
6. Báo cáo phân tích an toàn phải được rà soát, cập nhật định kỳ 10 năm một lần hoặc khi có các sửa đổi gây ảnh hưởng đến an toàn của nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
7. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết về phân tích an toàn đối với nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; nội dung báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ đề nghị phê duyệt địa điểm, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép vận hành thử và hồ sơ đề nghị cấp giấy phép vận hành nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Hệ thống quản lý chất lượng
1. Chủ đầu tư, tổ chức vận hành có trách nhiệm thiết lập, áp dụng, duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân. Chính sách an toàn phải được lập thành văn bản, thể hiện cam kết của tổ chức trong việc đặt an toàn là ưu tiên hàng đầu, được phổ biến rộng rãi tới nhân viên và các bên liên quan, được định kỳ rà soát, cập nhật để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.
2. Hệ thống quản lý chất lượng phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Xác định rõ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của chủ đầu tư, tổ chức vận hành, nhà thầu và các bên liên quan trong việc bảo đảm chất lượng;
Bảo đảm kiểm soát đầy đủ tài liệu và hồ sơ, đáp ứng yêu cầu về tính toàn vẹn, khả năng truy xuất, lưu giữ và bảo mật thông tin.
3. Hệ thống quản lý chất lượng có mức độ chi tiết phù hợp cho từng giai đoạn và gồm các nội dung có liên quan sau đây:Trách nhiệm của người đứng đầu và ban lãnh đạo; Mục tiêu, chiến lược, kế hoạch và chỉ tiêu; Tương tác với các bên liên quan; Tích hợp hệ thống quản lý; Áp dụng phương pháp tiếp cận theo cấp độ; Tài liệu hóa hệ thống quản lý; Cung cấp nguồn lực, quản lý nhân viên; Quản lý các quy trình, hoạt động và sự thay đổi; Quản lý nhà thầu và chuỗi cung ứng; Thúc đẩy và duy trì văn hóa an toàn; Đo lường, đánh giá định kỳ và cải tiến hệ thống quản lý; Kiểm soát nội bộ, đánh giá độc lập từ bên ngoài và quản lý sự không phù hợp.
4. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết về hệ thống quản lý chất lượng đối với khảo sát, đánh giá địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm dứt hoạt động nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Bảo đảm an ninh nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu
1. Việc bảo đảm an ninh phải áp dụng phương pháp tiếp cận bảo vệ theo chiều sâu theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.
2. Chủ đầu tư, tổ chức vận hành có trách nhiệm:
Xây dựng, duy trì, thực hiện và tổ chức diễn tập ứng phó sự cố an ninh bảo đảm an ninh theo quy định tại điểm l khoản 3 Điều này;
Tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt, kiểm soát chặt chẽ việc ra vào khu vực nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
3. Kế hoạch bảo đảm an ninh được xây dựng dựa trên đánh giá các mối đe dọa về an ninh và bao gồm các nội dung sau:
Mô tả thông tin chung về vị trí cơ sở, môi trường xung quanh, loại và sơ đồ vị trí vật liệu hạt nhân, nguồn phóng xạ, chất thải phóng xạ, các cấu trúc, hệ thống và bộ phận quan trọng về an toàn, sơ đồ các khu vực bảo vệ thực thể, các tuyến tuần tra và trạm cảnh báo;
Cơ cấu tổ chức và vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân, bộ phận liên quan đến bảo đảm an ninh;
Mô tả mối đe dọa an ninh, xác định các nguy cơ xâm nhập trái phép, phá hoại, tấn công khủng bố;
Phân cấp các khu vực an ninh theo mức độ quan trọng và mức độ kiểm soát tiếp cận;
Quy định về kiểm soát người, phương tiện ra vào, bao gồm nhận dạng, kiểm tra an ninh, giám sát hoạt động chương trình cấp giấy phép ra vào, kiểm tra và giám sát độ tin cậy nhân viên, các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ nội gián;
Hệ thống bảo vệ thực thể, bao gồm tường rào, hệ thống giám sát điện tử, kiểm soát ra vào, lực lượng bảo vệ chuyên trách; các biện pháp kỹ thuật như rào chắn vật lý, thiết bị cảnh báo và đánh giá xâm nhập, hệ thống chiếu sáng, trạm cảnh báo trung tâm và trạm dự phòng hoạt động độc lập;
Các biện pháp an ninh mạng, an ninh máy tính, bao gồm: phân loại hệ thống thông tin theo mức độ quan trọng, kiểm soát truy cập, phân vùng và cách ly mạng; xác định, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng có khả năng ảnh hưởng đến an toàn, an ninh hạt nhân; giám sát, phát hiện sự cố mạng theo thời gian thực, ứng phó kịp thời với các cuộc tấn công mạng; đào tạo định kỳ nhân sự về an ninh mạng, chống tấn công mạng dựa trên yếu tố con người và nguy cơ nội gián; kiểm tra an ninh phần mềm, phần cứng trong chuỗi cung ứng, ngăn ngừa rủi ro từ thiết bị, phần mềm bị xâm phạm; tích hợp an ninh mạng vào hệ thống bảo vệ thực thể để đối phó với tấn công kết hợp; định kỳ đánh giá, thử nghiệm xâm nhập, cải tiến biện pháp an ninh mạng;
Quy trình phối hợp với cơ quan công an, quân đội, lực lượng ứng phó khẩn cấp trong trường hợp có sự cố an ninh; thỏa thuận hỗ trợ, thông tin liên lạc và diễn tập chung với lực lượng bên ngoài;
Hệ thống giám sát, cảnh báo sớm và xử lý các mối đe dọa về an ninh hạt nhân; hệ thống liên lạc trong và ngoài cơ sở, có biện pháp dự phòng để bảo đảm duy trì thông tin liên tục trong mọi tình huống;
Quy trình kiểm soát và bảo vệ vật liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân, chất thải phóng xạ trước các hành vi chiếm đoạt, chuyển giao bất hợp pháp;
Kế hoạch diễn tập ứng phó sự cố an ninh, đào tạo định kỳ về bảo đảm an ninh cho nhân viên và lực lượng bảo vệ;
Kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng và kiểm tra định kỳ hệ thống bảo vệ thực thể, chương trình đánh giá và cải tiến hiệu lực bảo đảm an ninh;
Chế độ hồ sơ, báo cáo và lưu giữ tài liệu về bảo đảm an ninh.
4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị đưa công trình nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu thuộc thẩm quyền quản lý của mình vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
5. Việc thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh phải bảo đảm có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan công an, lực lượng quốc phòng và các lực lượng bảo vệ khác. Các lực lượng bảo vệ phải có đủ năng lực ứng phó với các tình huống an ninh.
6. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết về yêu cầu bảo đảm an ninh hạt nhân, kế hoạch bảo đảm an ninh nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
7. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan có liên quan tổ chức đánh giá mối đe dọa về an ninh đối với nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
8. Bộ Công an có trách nhiệm: Hướng dẫn chủ đầu tư, tổ chức vận hành thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia và phòng, chống khủng bố; Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định kế hoạch bảo đảm an ninh nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
9. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm: Chủ trì ứng phó khi xuất hiện tình trạng khẩn cấp về quốc phòng xảy ra tại khu vực nhà máy điện hạt nhân; Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định kế hoạch bảo đảm an ninh nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
10. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu có trách nhiệm: Phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ hành lang an toàn và khu vực bảo vệ theo phân cấp hành chính; Tổ chức việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiểm tra, xử lý các vi phạm liên quan đến công tác bảo vệ an ninh nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu./.
Hồng Vân-Sở Tư pháp
