Ngày 11/08/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký ban hành Quyết định số 1528/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, định hướng đến năm 2035. Theo đó, Quyết định này đưa ra quan điểm như sau:
1. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo là nhiệm vụ quốc gia mang tính chiến lược, cấp bách, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hình thành lực lượng lao động số góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” giai đoạn 2026 - 2030.
2. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo theo hướng toàn diện, đào tạo 03 tầng nhân lực: (i) tầng phổ cập nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả trong học tập, làm việc, sinh sống; (ii) tầng ứng dụng nhằm đào tạo nhân lực các ngành, lĩnh vực có năng lực tích hợp, ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo, đáp ứng yêu cầu của các vị trí việc làm theo các ngành nghề khác nhau; (iii) tầng chuyên sâu nhằm đào tạo đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia và giảng viên có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị các hệ thống, nền tảng trí tuệ nhân tạo.
3. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo theo hướng tiếp cận năng lực, chuẩn hóa, tham chiếu các chuẩn mực quốc tế và phù hợp với điều kiện Việt Nam.
4. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo phải gắn với yêu cầu phát triển, triển khai và quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy, minh bạch, có trách nhiệm và quản trị rủi ro; bảo đảm chủ quyền dữ liệu, an toàn hệ thống, an ninh mạng, bảo vệ bí mật Nhà nước; tuân thủ pháp luật, chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm xã hội.
5. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và điều phối; thúc đẩy hợp tác công - tư, giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo; kết hợp thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại và sử dụng hiệu quả nhân lực về trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ sinh thái nhân lực trí tuệ nhân tạo gắn với phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số.
Bên cạnh đó, tại Quyết định cũng đưa ra các mục tiêu và định hướng để phấn đấu đến năm 2035 như sau:
1. Các mục tiêu cụ thể đến năm 2030
a) Phổ cập kiến thức, kỹ năng và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả cho người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị:
- Ít nhất 80% học sinh phổ thông, học sinh dự bị đại học được phổ cập kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo phù hợp lứa tuổi; gắn với phát triển tư duy số, tư duy tính toán, đạo đức trong sử dụng trí tuệ nhân tạo và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm.
- Phấn đấu 100% người học trong các cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% người học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo, đạo đức và an toàn dữ liệu; có năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm.
- Ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập, 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lĩnh vực giáo dục và đào tạo được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về trí tuệ nhân tạo, có năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, quản lý và quản trị, trong đó: tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng chuyên sâu, có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ và lan tỏa năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm; ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo cơ bản.
b) Phát triển nhân lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực: đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và bồi dưỡng nâng cao tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên, có năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
c) Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trình độ cao, chuyên sâu: đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao về trí tuệ nhân tạo, bao gồm nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai, vận hành và quản trị các hệ thống trí tuệ nhân tạo tiên tiến, trong đó có ít nhất 1.500 chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ trí tuệ nhân tạo trọng điểm.
d) Hình thành hệ thống giáo dục tích hợp trí tuệ nhân tạo ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo; 100% cơ sở giáo dục đại học triển khai quy định về sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá; ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng của giáo dục nghề nghiệp tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung đào tạo về năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo.
đ) Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo và nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo: hình thành ít nhất 10 trung tâm đào tạo và nghiên cứu tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, trong đó có từ 5 đến 7 trung tâm trí tuệ nhân tạo đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế; phát triển ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học là đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về trí tuệ nhân tạo, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, các chương trình tích hợp trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực (AI+X) và chương trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo (X+AI).
2. Định hướng đến năm 2035
a) Hình thành hệ sinh thái nhân lực trí tuệ nhân tạo hiện đại, bền vững, có khả năng thích ứng với sự phát triển của công nghệ và hội nhập quốc tế; năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở thành năng lực phổ biến của lực lượng lao động; trí tuệ nhân tạo trở thành công nghệ nền tảng thúc đẩy học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.
b) Phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, các ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia. Hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, giảng viên và nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ và dẫn dắt công nghệ trí tuệ nhân tạo và có năng lực cạnh tranh trong mạng lưới phát triển trí tuệ nhân tạo của khu vực và quốc tế.
c) Hình thành các trung tâm, chương trình đào tạo và nhóm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và quốc tế; có năng lực đào tạo nhân lực trí tuệ nhân tạo chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo lõi, thu hút chuyên gia quốc tế và tham gia sâu vào mạng lưới phát triển trí tuệ nhân tạo của khu vực và quốc tế.
d) Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, có hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy và có trách nhiệm, đóng góp trực tiếp vào tăng năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.
Đồng thời, đưa 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện thể chế về chuẩn năng lực và hệ thống quản trị phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo.
Thứ hai, phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và mạng lưới hỗ trợ đào tạo trí tuệ nhân tạo.
Thứ ba, phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trình độ cao, chuyên sâu và năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho người học, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ năm, gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động.
Thứ sáu, phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường thực hành dùng chung phục vụ đào tạo trí tuệ nhân tạo.
Thứ bảy, truyền thông, nâng cao nhận thức và phổ cập kỹ năng trí tuệ nhân tạo./.
(Kèm Quyết định số 1528/QĐ-TTg)
Tác giả: Huỳnh Diệu
