Theo Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025) quy định các chức danh được giao quyền xử phạt, hình thức giao quyền và phương thức giao quyền đã tạo cơ sở pháp lý để người có thẩm quyền tổ chức việc giao quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề này, cụ thể như sau:
Những chức danh được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính: Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a của Luật XLVPHC có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho người khác.
Lưu ý:
Thứ nhất, phần căn cứ pháp lý ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính của cấp phó được giao quyền phải thể hiện rõ số, ngày, tháng, năm, trích yếu của quyết định giao quyền.
Thứ hai, người được giao quyền đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử phạt, thì có thẩm quyền xử phạt và được giao quyền xử phạt, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính như cấp trưởng.
Thứ ba, trong thời gian giao quyền, những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính vẫn có thẩm quyền xử phạt, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.
Phương thức giao quyền: Việc giao quyền XPVPHC được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc, đồng thời với việc giao quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 119 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Hình thức giao quyền: Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền (thực hiện theo Mẫu Quyết định số 34 (MQĐ34) Phụ lục Biểu mẫu trong XPVPHC ban hành kèm theo Nghị định 118/2021/NĐ-CP).
Căn cứ chấm dứt việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính:Theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, thì việc giao quyền chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn giao quyền ghi trong quyết định.
- Công việc được giao quyền đã hoàn thành.
- Cấp trưởng chấm dứt việc giao quyền cho cấp phó. Trong trường hợp này, việc chấm dứt giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định.
- Người giao quyền hoặc người được giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức hoặc tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật.
- Người giao quyền hoặc người được giao quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.
- Công việc được giao quyền tuy chưa hoàn thành nhưng vụ việc phải chuyển giao cho cơ quan, người có thẩm quyền khác xử lý theo quy định của pháp luật.
- Người giao quyền hoặc người được giao quyền bị khởi tố; bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
- Điều kiện để cấp trưởng giao quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật XLVPHC không còn./.
Tác giả: Trần Kiều
