Sáng 24/12/2025, Bộ Tư pháp đã tổ chức trực tuyến toàn quốc tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình (HNGĐ) năm 2014. Tại điểm cầu Trung ương, chủ trì hội nghị có đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp. Dự và chủ trì hội nghị tại điểm cầu thành phố Cần Thơ có đồng chí Đồng Việt Phương, Phó Giám đốc Sở Tư pháp.

(Đồng chí: Đồng Việt Phương, Phó Giám đốc Sở Tư pháp cùng các đại biểu tham dự hội nghị)
Trong thời gian 10 năm triển khai thi hành Luật HNGĐ năm 2014, kết quả tổng kết cho thấy nhiều văn bản luật được ban hành và văn bản hướng dẫn thi hành, văn bản có liên quan (gồm: 5 nghị định của Chính phủ, 6 thông tư, thông tư liên tịch của bộ trưởng các bộ, ngành, 4 Nghị quyết, 4 án lệ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành hoặc lựa chọn công bố, 10 nghị quyết, quyết định, chiến lược liên quan đến công tác hôn nhân và gia đình). Qua đó, cho thấy Đảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về hôn nhân và gia đình. Các văn bản nêu trên đã tác động tích cực đến đời sống xã hội, tạo ra hành lang pháp lý cho các mối quan hệ hôn nhân và gia đình góp phần to lớn trong việc xây dựng nền tảng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên trong gia đình được ghi nhận và bảo đảm thực hiện; các quyền con người, quyền công dân của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có cả quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng, phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong quy định, áp dụng pháp luật.
Đồng thời, Luật đã được triển khai sâu rộng trên phạm vi toàn quốc, với sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, bao gồm Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội LHPN Việt Nam cùng chính quyền địa phương. Công tác triển khai Luật được thực hiện thông qua hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cùng nhiều kế hoạch, đề án, chương trình hành động tại các bộ, ngành và địa phương. Việc tổ chức thực hiện Luật HNGĐ năm 2014 không chỉ củng cố cơ sở pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân, mà còn góp phần duy trì trật tự xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, bảo đảm sự phát triển bền vững của gia đình Việt Nam. Trong đó, có những kết quả nổi bật như:
- Về đăng ký kết hôn và hộ tịch: Từ năm 2015 đến hết năm 2025, toàn quốc đã giải quyết hơn 6.077.626 hồ sơ đăng ký kết hôn, trong đó 87,9% là đăng ký kết hôn lần đầu.
- Về công tác hòa giải và phòng ngừa tranh chấp hôn nhân - gia đình: Các mô hình hòa giải cơ sở, “địa chỉ tin cậy tại cộng đồng” và “câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật” do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và chính quyền địa phương phối hợp thực hiện đã chứng minh hiệu quả xã hội cao, giúp giảm thiểu ly hôn và bạo lực gia đình.
- Về giải quyết ly hôn và tranh chấp tại Tòa án: Trong giai đoạn 2015 - 2025, tỷ lệ giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình trung bình đạt trên 97%. Các vụ án ly hôn chiếm khoảng 80% tổng số vụ việc, tương đương hơn 750.000 vụ, việc phản ánh thực tế mâu thuẫn gia đình có xu hướng gia tăng trong bối cảnh kinh tế - xã hội thay đổi nhanh chóng.
- Về công tác thi hành án dân sự Trong giai đoạn 2015-2025, có hơn 79.211 vụ việc liên quan tài sản vợ chồng được xử lý, trong đó 61.128 vụ đã thi hành xong, tương ứng hơn 5.000 tỷ đồng được thực hiện nghĩa vụ.
- Về công tác phòng ngừa tảo hôn và hôn nhân cận huyết: Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giảm rõ rệt so với giai đoạn 2010-2025: Tỷ lệ tảo hôn vùng dân tộc thiểu số giảm còn 11,8% (giảm bình quân 1,2%/năm); Số trường hợp tảo hôn giảm từ 39.021 (2014-2018) xuống 24.023 (2021-2023); Hôn nhân cận huyết giảm từ 1.004 xuống 596 trường hợp.
- Về hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Trong 10 năm qua, Hội đã tổ chức hơn 150.000 buổi tuyên truyền, xây dựng 3.500 mô hình Câu lạc bộ pháp luật, và hỗ trợ hàng chục nghìn phụ nữ bị bạo lực.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: Một số quy định chưa thực sự đảm bảo bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, còn thiếu cụ thể, chưa rõ ràng, chưa đầy đủ; còn có quy định chưa thực sự hợp lý, khả thi, chưa kịp thời điều chỉnh nhiều vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội; việc áp dụng pháp luật ở một số nơi còn chưa thống nhất; tình trạng vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình vẫn còn xảy ra; một số quy định pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số…
Hội nghị cũng đề xuất một số định hướng lớn trong hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và đình như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình theo hướng bảo đảm tốt hơn nữa quyền con người, quyền công dân nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu tối thượng và là thước đo thành công của sự nghiệp xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ quyền con người như: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”, “xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” (văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII); các quy định của luật phải “...lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm” (Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới). Trong đó, tập trung hướng tới việc thực thi bảo vệ tốt hơn với tính khả thi cao như các quan hệ nhân thân và tài sản trong hôn nhân gia đình, đề cao giá trị nhân văn, tôn trọng quyền mưu cầu hạnh phúc của cá nhân; bảo đảm quyền tự do kết hôn, ly hôn, bình đẳng giới và quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người yếu thế trong gia đình.
Thứ hai, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật (giữa Luật Hôn nhân và gia đình với các luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, pháp luật tố tụng…); tính thống nhất, kết nối trong nội tại các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; đảm bảo quy định đầy đủ, rõ ràng hơn, làm rõ nội hàm thuật ngữ, chế định để điều chỉnh các vấn đề phát sinh, tháo gỡ khó khăn, bất cập phát sinh trong thực tiễn.
Thứ ba, thích ứng với sự biến đổi của các quan hệ gia đình trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển khoa học công nghệ. Đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, cần rà soát, hoàn thiện các quy định về xung đột pháp luật, thẩm quyền giải quyết, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của cơ quan nước ngoài trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; bảo đảm tính tương thích với pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tăng cường bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết ly hôn, nuôi con, chia tài sản, nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Thứ tư, nâng cao tính khả thi, minh bạch và hiệu quả thi hành của Luật HNGĐ. Theo đó, cần hoàn thiện các quy định theo hướng rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, hạn chế tối đa cách hiểu khác nhau trong thực tiễn; lược bỏ những quy định không khả thi, không thực hiện được trên thực tế.
Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh: Luật HNGĐ là một trong những đạo luật gần gũi, gắn bó với mỗi người, không chỉ gắn bó về quyền, nghĩa vụ pháp lý, quyền nhân thân, quyền tài sản mà bảo đảm quyền tự do hôn nhân, quyền được sống trong môi trường gia đình hạnh phúc, quyền bình đẳng của các cá nhân, tôn trọng quyền con người; phát huy những giá trị tích cực, được xã hội đón nhận trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, một vợ một chồng; quyền được làm cha, làm mẹ và làm con và quyền được yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng nhau giữa các thành viên gia đình. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá toàn diện, đầy đủ, từ đó đề xuất, tham mưu cấp có thẩm quyền về hoàn thiện pháp luật HNGĐ và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, tháo gỡ những vấn đề mang tính “điểm nghẽn”, rào cản cho sự phát triển của gia đình, nhằm thể chế hóa sâu sắc, cụ thể hơn quan điểm để xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc con người Việt Nam trong thời gian tới./.
Quốc Lai-Sở Tư pháp
