Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng

        Ngày 19 tháng 8 năm 2026 Chính phủ ban hành Nghị định số 333/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng. Theo đó, Nghị định quy định về nguyên tắc áp dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng, trình tự, thủ tục giám sát an ninh mạng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong triển khai các biện pháp bảo vệ an ninh mạng như sau:

Nguyên tắc áp dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng

- Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng phải tuân thủ quy định của Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Các biện pháp bảo vệ an ninh mạng chỉ được áp dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; chỉ được thực hiện sau khi có quyết định phê duyệt bằng văn bản của người có thẩm quyền.

Trình tự, thủ tục giám sát an ninh mạng

- Giám sát an ninh mạng là hoạt động thu thập, tiếp nhận, phân tích, xử lý thông tin nhằm phát hiện, cảnh báo nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và khắc phục.

- Chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm tổ chức giám sát an ninh mạng đổi với hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; xây dựng cơ chế tự giám sát, tự cảnh báo, tiếp nhận cảnh báo về nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hồng bảo mật; duy trì hệ thống giám sát an ninh 9 mạng, hệ thống phòng, chống mã độc tập trung đáp ứng yêu cầu kết nổi, chia sẻ dữ liệu cảnh báo nguy cơ, sự cố an ninh mạng với cơcơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm phối hợp thường xuyên với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng trong việc tổ chức giám sát an ninh mạng; bảo đảm điều kiện kỹ thuật, nhân lực và thông tin cần thiết phục vụ hoạt động giám sát an ninh mạng theo yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia.

- Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an thực hiện giám sát an ninh mạng đối với các đối tượng sau đây, trừ hệ thống thông tin quân sự và hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ:

+ Không gian mạng quốc gia;

+ Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ được giao;

+ Hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị theo chức năng, nhiệm vụ được giao;

+ Hệ thống thông tin khác trong trường hợp cần thiết theo quy định của Luật An ninh mạng.

- Trình tự thực hiện giám sát an ninh mạng của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được quy định như sau:

+ Trước khi triển khai biện pháp giám sát an ninh mạng, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thông báo bằng văn bản cho chủ quản hệ thống thông tin về lý do, phạm vi, nội dung, thời gian và yêu cầu phối hợp giám sát, trừ trường hợp khẩn cấp nhằm bảo vệ an ninh quốc gia;

+ Trường hợp khần cấp không thể thông báo trước, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng triển khai ngay biện pháp giám sát an ninh mạng và gửi văn bản thông báo cho chủ quản hệ thống thông tin trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm triển khai;

+ Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng triển khai biện pháp kỹ thuật giám sát an ninh mạng theo phạm vi, nội dung đã thông báo hoặc theo yêu cầu xử lý tình huống khẩn cấp;

+ Thông tin thu thập được trong quá trình giám sát phải được phân tích, đánh giá để kịp thời phát hiện, cảnh báo nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cổ an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại;

+ Trường hợp phát hiện nguy cơ, sự cố an ninh mạng hoặc dấu hiệu ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mmạng thống báo kịp thời cho chủ quản hệ thống thông tin để phối hợp xử lý, khắc phục;

+ Kết quả giám sát an ninh mạng được tổng hợp, thông báo cho chủ quản hệ thống thông tin trong phạm vi cần thiết và báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình giám sát an ninh mạng, chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm:

+ Phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng trong việc triển khai biện pháp giám sát an ninh mạng;

+ Bảo đảm điều kiện kỹ thuật cần thiết phục vụ hoạt động giám sát an ninh mạng theo yêu cầu hợp pháp của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng;

+ Cung cấp, cập nhật thông tin liên quan đến cấu hình, kết nối, vận hành hệ thống thông tin khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;

+ Tiếp nhận, xử lý cảnh báo nguy cơ, sự cố an ninh mạng và thực hiện biện pháp khắc phục theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

- Doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, công nghệ thông tin có trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin, dữ liệu kỹ thuật cần thiết và hỗ trợ lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng trong hoạt động giám sát an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

- Việc giám sát an ninh mạng phải bảo đảm đúng thẩm quyền, phạm vi, mục đích, yêu cầu bảo vệ an ninh mạng; không làm ảnh hưởng trái pháp luật đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân và hệ thống thông tin được giám sát.

- Thông tỉn, tài liệu, dữ liệu thu thập được từ hoạt động giám sát an ninh mạng được quản lý, sử dụng, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong triển khai các biện pháp bảo vệ an ninh mạng

- Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình, kịp thời phối hợp, hỗ trợ lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

- Trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ qua biên giới bị cơ quan có thẩm quyền công bố vi phạm pháp luật Việt Nam, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với cơcơ quan chức năng có thẩm quyền trong ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý hành vi vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ qua biên giới.

- Mọi hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật; trường hợp gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Đối với các hệ thống thông tin không nằm trong Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp đồng bộ bảo vệ an ninh mạng theo chức năng, nhiệm vụ được giao:

+ Bộ Công an là đầu mối chủ trì đối với các hoạt động dân sự, kinh tế, các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ an ninh mạng, phòng, chống tội phạm mạng, khủng bổ mạng, gián điệp mạng;

+ Bộ Quốc phòng là đầu mối chủ trì đối với các hoạt động bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19 tháng 8 năm 2026.

Đính kèm Nghị định số 333/2026/NĐ-CP

Tác giả: Thúy Vi