Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 quy định chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030. Theo đó, Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
* Sự cần thiết, mục đích ban hành:
- Sự cần thiết ban hành:
+ Cơ sở chính trị, pháp lý:
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đã xác định: “Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp, có các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp…”;
Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành một trong những trung tâm về khoa học công nghệ, công nghiệp chế biến, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Tập trung nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới, nhất là công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ chế chính đặc thù, phù hợp…;
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, đã xác định: “Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh hiệu quả, bền vững trong kinh tế tư nhân; Có chính sách hỗ trợ chi phi đầu tư mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ…”;
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới;
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 nêu rõ: “Tập trung thúc đẩy việc chuyển giao, ứng dụng các công nghệ tiên tiến cùng với nâng cao năng lực hấp thụ và đổi mới công nghệ, năng lực quản trị doanh nghiệp, trình độ và kỹ năng nguồn nhân lực, triển khai chuyển đổi số, đổi mới quy trình sản xuất và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với quá trình đổi mới công nghệ”, “Rà soát, sửa đổi đồng bộ giữa các quy định của pháp luật về thuế, tài chính, tín dụng và quy định pháp luật về khoa học và công nghệ để triển khai có hiệu quả các cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp cho đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ,…”;
Thời gian qua, Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố đặc biệt quan tâm đến công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố thông qua việc ban hành và triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, thiết bị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chủ động tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
+ Cơ sở pháp lý
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định “2. Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.”;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Chuyển giao công nghệ, quy định: Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh “1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, đề án, chương trình, kế hoạch về chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ tại địa phương.”;
Tại điểm e khoản 2 Điều 6, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quy định:
“2. Để cụ thể hóa các định hướng chiến lược quy định tại khoản 1 Điều này, Nhà nước thực hiện các chính sách sau đây:
……………………
e) Tăng cường hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; thúc đẩy phát triển công nghệ, chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, làm chủ và sáng tạo công nghệ; ….”;
Tại điểm d khoản 3 Điều 34, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quy định:
“3. Nhà nước khuyến khích và thúc đẩy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống đổi mới sáng tạo thông qua biện pháp sau đây:
……………………………
d) Có chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, đất đai, đấu thầu và tín dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa.”.
Tại khoản 1 Điều 35, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quy định:
“1. Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; đầu tư, nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động này.”.
Tại khoản 1 Điều 12 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ…, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp”,
Tại điểm a khoản 4 mục II Điều 1 Quyết định số 118/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2030, quy định cụ thể nhiệm vụ và giải pháp thực hiện:
“a) Tiếp nhận, chuyển giao, nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến; hỗ trợ đào tạo, thuê chuyên gia thiết kế, sản xuất sản phẩm mới và thay đổi quy trình công nghệ để tạo ra các sản phẩm có sức tiêu thụ lớn, chiếm lĩnh thị trường trong nước.”.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 06/2021/TT-BKHCN ngày 18 tháng 6 năm 2021 hướng dẫn quản lý Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2030, hướng dẫn chuyên môn, trình tự thủ tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình.
+ Cơ sở thực tiễn
Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2011, đặt mục tiêu hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ tăng trung bình 10%/năm đến năm 2015 và tăng trung bình 15%/năm, trong đó có 5% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 03/2012/TT-BKHCN ngày 18 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn quản lý Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020; Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư liên tịch số 79/2014/TTLT-BTC-BKHCN ngày 18 tháng 6 năm 2014 hướng dẫn quản lý tài chính Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020.
Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành: Chương trình Đổi mới công nghệ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Cần Thơ giai đoạn 2013 - 2017 tại Quyết định số 4452/QĐ-UBND ngày 20 năm 12 năm 2013; Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, thiết bị giai đoạn 2018 - 2020 tại Quyết định số 2792/QĐ-UBND ngày 26 tháng 10 năm 2017 và Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, thiết bị thành phố Cần Thơ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 3187/QĐ-UBND ngày 26 tháng 8 năm 2022.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị thời gian qua trên địa bàn thành phố Cần Thơ ngày càng đi vào thực tiễn, có tác động khuyến khích các doanh nghiệp triển khai các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đổi mới công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh, phát triển doanh nghiệp nói chung và hình thành, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ nói riêng. Thành phố đã không ngừng tìm các giải pháp, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với các công nghệ sản xuất hiện đại, tiếp cận các chính sách hỗ trợ để thực hiện đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp. Kết quả triển khai thực hiện chính sách từ năm 2013 đến nay, Sở Khoa học và Công nghệ đã thực hiện hỗ trợ hơn 35 lượt doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chế tạo thiết bị công nghệ, đầu tư công nghệ tiên tiến, công nghệ cao với tổng số kinh phí hỗ trợ là 10,3 tỷ đồng từ kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ của thành phố, kinh phí đối ứng của doanh nghiệp hơn 36,2 tỷ đồng.
Tiếp nối Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 118/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2021 Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2030 và Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 06/2021/TT-BKHCN ngày 18 tháng 6 năm 2021 hướng dẫn quản lý Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2030.
Tuy nhiên, đến nay Bộ Tài chính chưa ban hành Thông tư quy định về quản lý tài chính thực hiện Chương trình, dẫn tới nhiều vướng mắc, bất cập trong việc triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, thiết bị của địa phương như: chưa có cơ sở xác định nội dung chi và định mức hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp thực hiện dự án.
Qua trao đổi, tham vấn một số tỉnh, thành phố để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế tài chính hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ.
Các chính sách trên đều thực hiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp đổi mới, mua công nghệ, thiết bị với mức hỗ trợ tối đa 30% trên tổng kinh phí thực hiện (phần còn lại do doanh nghiệp đối ứng). Hình thức hỗ trợ thông qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Từ các cơ sở pháp lý và thực tiễn nêu trên, để triển khai đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ trong doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã trên địa bàn thành phố Cần Thơ thì việc xây dựng và ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 là rất cần thiết.
- Mục đích ban hành
Quy định chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 nhằm thúc đẩy, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức, hợp tác xã đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với quy định hiện hành, đảm bảo tính pháp lý và tình hình thực tiễn của địa phương;
Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã. Việc đổi mới công nghệ, thiết bị giúp doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ mới, tiếp cận khoa học công nghệ và mang lại hiệu quả, giúp doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã định hướng và phát triển, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
* Nội dung chủ yếu:
Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 quy định chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 gồm 12 Điều, cụ thể:
- Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
+ Phạm vi điều chỉnh: Nghị quyết này quy định về loại hình, nguyên tắc, hình thức, mức hỗ trợ, thủ tục xét hỗ trợ, quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu, thương mại hóa kết quả và xử lý tài sản trang bị, quản trị rủi ro trong đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ, hợp tác xã trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030.
+ Đối tượng áp dụng: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Cần Thơ được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tại Điều 5 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), hợp tác xã có hoạt động: thực hiện đổi mới, cải tiến thiết bị, công nghệ, chuyển giao, ứng dụng công nghệ; Các tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố có hoạt động: Nâng cao năng lực công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ công nghệ tiên tiến, đánh giá hiện trạng, trình độ và năng lực công nghệ trong các ngành, lĩnh vực; Các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức, triển khai thi hành Nghị quyết này.
- Loại hình công nghệ được hỗ trợ
- Nguyên tắc hỗ trợ
- Hình thức hỗ trợ
- Mức hỗ trợ hoạt động đổi mới công nghệ
- Thủ tục xét hỗ trợ
- Quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu, thương mại hóa kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và xử lý tài sản trang bị thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
- Quản trị rủi ro trong thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
- Kinh phí thực hiện chính sách.
(Đính kèm Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND)
Nguyễn Thị Hiếu - Sở Tư pháp
