Quy định triển khai Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026 - 2030

Ngày 20 tháng 10 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2287/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026 - 2030. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Kế hoạch được ban hành nhằm tổ chức triển khai đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030 ban hành kèm theo Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 28/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là Chương trình). Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật trong công tác bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác. Góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật và các cơ chế, chính sách về trẻ em; mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật và trợ giúp pháp lý (TGPL) cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác.

Đồng thời, tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), truyền thông pháp luật về bảo vệ trẻ em và TGPL cho trẻ em, tăng cường công tác phối hợp giữa tổ chức thực hiện TGPL với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm kịp thời phát hiện, giới thiệu, hỗ trợ và TGPL cho trẻ em. Qua đó, nâng cao chất lượng hoạt động TGPL cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em; bảo đảm 100% yêu cầu TGPL cho trẻ em được đáp ứng, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Kế hoạch quy định các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện như sau:

(1) Hoàn thiện quy định của pháp luật và các cơ chế, chính sách về bảo vệ trẻ em

- Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến trẻ em, bao gồm các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của trẻ em.

- Rà soát các VBQPPL trong lĩnh vực PBGDPL và TGPL cho trẻ em, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật và TGPL của trẻ em.

(2) Đẩy mạnh truyền thông về PBGDPL và TGPL cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác; bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

- Đa dạng các hình thức truyền thông về PBGDPL và TGPL bằng nhiều hình thức: trực tiếp, trực tuyến, ứng dụng công nghệ thông tin trên môi trường số đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cổng Thông tin điện tử PBGDPL quốc gia, Trang Thông tin điện tử TGPL Việt Nam, Trang Thông tin điện tử Sở Tư pháp và các nền tảng mạng xã hội để bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác, chú trọng trẻ em là người đồng bào dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số rất ít người, trẻ em sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, miền núi, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Truyền thông rộng rãi về chính sách, pháp luật và quyền được TGPL miễn phí cho trẻ em; bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động truyền thông về chính sách, pháp luật và quyền được TGPL miễn phí cho trẻ em bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực và phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa phương.

(3) Xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch, đề án, tài liệu PBGDPL và TGPL về bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác.

(4) Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, hội nghị, hội thảo, chuyên đề nâng cao năng lực về PBGDPL và TGPL trong công tác bảo vệ trẻ em đặc biệt là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác cho đội ngũ người làm công tác PBGDPL, TGPL và người có liên quan.

(5) Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và phối hợp liên ngành trong công tác bảo vệ trẻ em

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác PBGDPL và TGPL về bảo vệ trẻ em.

Hoạt động 1: Cập nhật hồ sơ việc, vụ việc TGPL, thông tin tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, người được TGPL lên hệ thống thông tin TGPL theo quy định.

Hoạt động 2: Hoàn thiện, nâng cấp và vận hành hệ thống thông tin TGPL, trong đó có việc chia sẻ, kết nối dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành để thuận lợi trong việc TGPL cho trẻ em, bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu cá nhân của trẻ em theo quy định.

- Tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương về công tác PBGDPL và TGPL trong triển khai Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật.

(6) Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế, trao đổi, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm các nước về công tác PBGDPL và TGPL cho trẻ em nhất là trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bóc lột, bỏ rơi, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác; huy động nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, các đối tác phát triển để thực hiện có hiệu quả công tác TGPL cho trẻ em

(7) Theo dõi, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các chính sách pháp luật cho trẻ em, các nhiệm vụ trong Kế hoạch.

- Tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện Kế hoạch.

Ngoài ra, tại Kế hoạch quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan cụ thể như sau:

 (1) Cục PBGDPL và TGPL là đơn vị đầu mối giúp Bộ trưởng theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình và kết quả thực hiện Kế hoạch này bảo đảm tiến độ, chất lượng; kịp thời phát hiện vướng mắc, bất cập, vấn đề mới phát sinh để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

(2) Các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nêu tại Mục II và thông tin kết quả về Cục PBGDPL và TGPL để tổng hợp. Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ theo Kế hoạch này có trách nhiệm lồng ghép những nhiệm vụ được giao vào Kế hoạch công tác hằng năm của từng đơn vị để triển khai thực hiện, đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Cục PBGDPL và TGPL trong việc tổ chức thực hiện và sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả triển khai Kế hoạch bảo đảm hiệu quả, đúng quy định.

(3) Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố tổ chức và phối hợp triển khai các nội dung hoạt động được giao theo Kế hoạch, có thể lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch khác bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm; báo cáo kết quả theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp; chỉ đạo Trung tâm TGPL nhà nước triển khai các hoạt động TGPL cho trẻ em giai đoạn 2026 - 2030.

(4) Trung tâm TGPL nhà nước các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động được giao tại Kế hoạch và báo cáo, tham mưu Sở Tư pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan./.

Tác giả: Hồng Vân