Quy định về quy trình, kiểm chứng, xác minh tin giả, tin sai sự thật và công bố, ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật

Ngày 19 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 10 năm 2026.

Theo Nghị định, quy trình kiểm chứng, xác minh tin giả, tin sai sự thật và công bố, ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật được quy định cụ thể như sau:

Quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật

1. Phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:

- Phát hiện thông qua cá nhân, cơ quan, tổ chức phản ánh, tố giác tin giả, tin sai sự thật;

- Phát hiện thông qua cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện giám sát, rà soát, kiểm soát thông tin trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;

-Phát hiện thông qua rà soát, cảnh báo của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;

- Phát hiện thông qua việc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp chuyển yêu cầu đến cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật;

- Phát hiện thông qua yêu cầu kiểm chứng, xác minh, làm rõ của nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng do thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.

2. Kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.

3. Gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật: Sau khi kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, đơn vị trực tiếp kiểm chứng gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật.

4. Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật công bố, cảnh báo thông tin phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin.

5. Ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật.

6. Áp dụng các hình thức xử lý.

Kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật

1. Cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật gồm: các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp kiểm chứng thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật theo quy định tại Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21 của Nghị định này.

Trường hợp trong quá trình kiểm chứng thông tin có dấu hiệu tội phạm thì chuyển thông tin, vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự hiện hành.

2. Kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:

- Phân loại tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan phát hiện, tiếp nhận thông tin tiến hành phân loại thông tin theo khoản 1 và khoản 2 Điều 4 của Nghị định này để tiến hành kiểm chứng hoặc chuyển cho các cơ quan, đơn vị chức năng theo thẩm quyền quy định tại Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21 của Nghị định này.

Cơ quan chức năng có thẩm quyền ưu tiên kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin thuộc điểm a khoản 1 Điều 4 của Nghị định này sau khi phân loại;

- Xác minh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:

+ Xác định danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật. Trường hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp không xác định được danh tính thì phối hợp với Bộ Công an tiến hành xác định danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật;

+ Trong quá trình xác minh có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự hiện hành;

- Kết luận kiểm chứng thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật: Xác thực thông tin là tin giả, tin sai sự thật; thông tin không phải là tin giả, tin sai sự thật; thông tin không có điều kiện xác thực;

- Kết luận cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật và mức độ vi phạm.

3. Trạng thái thông tin trong quá trình kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật như sau:

-Trong thời gian kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật, cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ thể hiện trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng là “Đang xử lý”;

- Sau khi hoàn thành kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật, cơ quan tiến hành thể hiện trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng “Đã hoàn thành xử lý”.

Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật

1. Việc công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật được tiến hành sau khi kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật và xác thực thông tin là tin giả, tin sai sự thật.

2. Nội dung công bố, cảnh báo gồm:

- Công bố, cảnh báo thông tin là tin giả, tin sai sự thật sau khi gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật đối với thông tin thuộc điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định này. Đối với thông tin thuộc điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định này thì việc công bố phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin;

- Trường hợp không công bố nhưng cảnh báo để cá nhân, tổ chức thận trọng hoặc không được sử dụng, đăng tải, phát tán thông tin gồm:

- Trường hợp kết luận thông tin không có điều kiện xác thực;

- Trường hợp xác thực là tin giả, tin sai sự thật thuộc điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định này;

- Không công bố, cảnh báo nhưng áp dụng ngăn chặn, gỡ bỏ đối với tin giả, tin sai sự thật thuộc điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị định này;

- Công bố danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật sau khi có kết luận kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.

3. Cơ quan chức năng có thẩm quyền căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại từ tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật thông qua các hình thức sau:

- Gửi đến khu dân cư nơi cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật và khu dân cư nơi bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo;

- Gửi đến cơ quan, tổ chức nơi cá nhân làm việc và cơ quan, tổ chức nơi bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo;

- Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật trên trang, cổng thông tin hoặc ứng dụng công khai của cơ quan, đơn vị;

- Công bố, cảnh báo trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trực tiếp kiểm chứng;

- Công bố, cảnh báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng;

- Công bố, cảnh báo chính thức cấp nhà nước.

4. Thời gian công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật:

- Đối với tin giả, tin sai sự thật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định này, cơ quan chức năng có thẩm quyền phải tiến hành công bố ngay sau khi gắn nhãn;

- Đối với tin giả, tin sai sự thật tại điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định này thì tiến hành công bố, cảnh báo trong thời hạn 12 giờ làm việc kể từ khi được gắn nhãn.

Ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật

1. Các cơ quan có thẩm quyền được tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để ngăn chặn hoặc yêu cầu các cá nhân, tổ chức liên quan ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật sau khi kết luận tin giả, tin sai sự thật.

2. Các cơ quan báo chí, truyền thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam có trách nhiệm ngăn chặn, không cho phép đăng tải hoặc gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật sau khi được cơ quan chức năng có thẩm quyền gắn nhãn, thông báo, công bố tin giả, tin sai sự thật hoặc yêu cầu gỡ bỏ, ngăn chặn theo quy định của pháp luật.

Tác giả: Tấn Hòa