Ngày 05/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/2026/NĐ-CP quy định một số nội dung về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 22/6/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026.
Việc ban hành Nghị định nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp giữ vai trò hạ tầng trọng yếu của thị trường chứng khoán; bảo đảm công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật chứng khoán.
Theo đó, Nghị định quy định một số nội dung về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá và xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam.
Đối tượng áp dụng gồm: Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam; Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam; Bộ Tài chính là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước tại Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam; Tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến cơ chế quản lý tài chính và đánh giá, xếp loại doanh nghiệp của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam.
Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trường hợp có sự khác nhau giữa Nghị định này và các văn bản hướng dẫn liên quan thì thực hiện theo quy định tại Nghị định.
Đối với hoạt động đầu tư, Nghị định yêu cầu hai doanh nghiệp phải xác định rõ các xung đột lợi ích có thể phát sinh khi thực hiện đầu tư; xây dựng biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trước khi triển khai thực hiện. Thẩm quyền quyết định đầu tư được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Điều lệ tổ chức và hoạt động của từng đơn vị và các quy định pháp luật có liên quan.
Nghị định cũng quy định cụ thể doanh thu và thu nhập của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, bao gồm doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ, cung cấp dịch vụ, đầu tư vốn vào công ty con, hoạt động tài chính và các khoản thu nhập khác theo quy định của pháp luật.
Trong đó, doanh thu của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam bao gồm các khoản thu từ hoạt động quản lý thành viên, tổ chức thị trường giao dịch, cung cấp dịch vụ hạ tầng công nghệ cho thị trường chứng khoán và các hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật. Đối với Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, doanh thu bao gồm các khoản thu từ hoạt động đăng ký, lưu ký, chuyển khoản chứng khoán, thực hiện quyền, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán, quản lý tài sản ký quỹ, vay và cho vay chứng khoán, xử lý lỗi sau giao dịch, đăng ký biện pháp bảo đảm, cũng như hoạt động lưu ký và thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon.
Đáng chú ý, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam được hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính đối với khoản lãi tiền gửi phát sinh từ hoạt động thanh toán hộ cổ tức, gốc, lãi, tiền mua lại công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, các chứng khoán khác và thực hiện quyền mua chứng khoán.
Về chi phí, ngoài các khoản chi theo quy định chung của pháp luật, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế đối với một số khoản chi đặc thù như chi trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chứng khoán; chi phí chuyển công ty con của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam đối với hoạt động giao dịch chuyển quyền sở hữu chứng khoán không qua hệ thống giao dịch chứng khoán.
Đối với công tác đánh giá, xếp loại doanh nghiệp, hai đơn vị thực hiện theo quy định của pháp luật về đánh giá, xếp loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Ngoài các yếu tố khách quan được loại trừ theo quy định chung, Nghị định cho phép được loại trừ tác động của một số yếu tố như thay đổi chính sách của Nhà nước và các biến động khách quan của thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến doanh thu, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định trách nhiệm của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam trong việc tuân thủ cơ chế quản lý tài chính, thực hiện chế độ báo cáo, công khai thông tin, giám sát nội bộ, quản lý vốn đầu tư tại công ty con và chấp hành sự giám sát, thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Đối với Bộ Tài chính, Nghị định giao thực hiện quyền và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước tại Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam; đồng thời đánh giá việc chấp hành chế độ, chính sách để trình Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quy định liên quan đến cơ chế quản lý tài chính và đánh giá, xếp loại doanh nghiệp.
Kể từ ngày Nghị định số 145/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Nghị định số 59/2021/NĐ-CP ngày 18/6/2021 của Chính phủ quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam hết hiệu lực thi hành. Đồng thời, Nghị định cũng sửa đổi một số nội dung tại Nghị định số 248/2025/NĐ-CP nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Tác giả: Anh Thư
