Ngày 13/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2026/NĐ-CP quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Theo đó, Nghị định này quy định chính sách của Nhà nước đối với tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, như sau:
1. Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ định hướng chiến lược xây dựng công nghiệp an ninh của Đảng, Nhà nước để ban hành các quy định, chương trình, kế hoạch và trực tiếp chỉ đạo, điều phối, dẫn dắt sự phát triển tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia; quản lý việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia và hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia; quy định cụ thể việc giao nhiệm vụ, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu, hợp tác công tư, hỗ trợ nguồn lực để triển khai hoạt động của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
2. Thúc đẩy liên doanh, liên kết giữa các thành phần của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia:
- Ban hành quy chuẩn, công bố tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực an ninh, trật tự, tạo cơ sở cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá sản phẩm, dịch vụ của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia;
- Ưu tiên các thành phần của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia tham gia các dự án đầu tư, mua sắm công, chương trình xúc tiến thương mại, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, chương trình khảo sát trong nước và nước ngoài liên quan đến nhóm, chuyên ngành sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
3. Bộ Công an xây dựng đề án, chương trình phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi thuộc lĩnh vực quản lý trên cơ sở danh mục và chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt được phê duyệt để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh và giao cho tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia triển khai thực hiện. Kinh phí triển khai đề án, chương trình được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh.
4. Các cơ chế, chính sách về hợp tác công tư trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh, phát triển khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng được áp dụng theo quy định của Nhà nước đối với hợp tác công tư để đầu tư nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Các hợp đồng nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh được thực hiện dưới hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc chỉ định thầu. Bộ Công an quyết định theo thẩm quyền việc giao nhiệm vụ, đặt hàng, chỉ định nhà thầu là thành viên thuộc tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia để nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ số, công nghệ nền, công nghệ lõi trên lĩnh vực an ninh, trật tự; thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh. Kinh phí triển khai thực hiện được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh.
6. Ưu tiên nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, các khu công nghiệp an ninh (sử dụng đất an ninh), khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng (bao gồm cả đất an ninh và đất sản xuất công nghiệp, đất dịch vụ), trang thiết bị cho tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia và phục vụ nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh. Khuyến khích hợp tác công tư trong đầu tư, phát triển các khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng phục vụ hoạt động của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia. Khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng được hưởng ưu đãi đầu tư áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan; nhà nước ưu tiên hỗ trợ vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước và khuyến khích nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ tại khu công nghiệp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí quỹ đất, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đầu tư hạ tầng kết nối thiết yếu và tạo điều kiện theo đề nghị của Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh để đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khu công nghiệp an ninh, khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng tại địa phương phục vụ phát triển công nghiệp an ninh.
7. Bộ Công an ưu tiên bố trí kinh phí, hỗ trợ triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong nước và nước ngoài để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các thành phần thuộc tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
8. Các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh (bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng theo quy định) của Việt Nam khi có nhu cầu và trong viện trợ không hoàn lại cho các đối tác nước ngoài.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 13 tháng 02 năm 2026./.
Tác giả: Tấn Hòa

