Ngày 17 tháng 6 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1091/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026 – 2030. Để hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026 – 2030 Đề án đã nêu các nhiệm vụ cần thiết triển khai thực hiện như sau:
Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật:
- Rà soát, hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp có thị trường, khách hàng trong nước, ưu đãi, hỗ trợ về đầu tư, đất đai, thuế; bảo đảm thị trường đầu ra cho sản phẩm; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển và sở hữu trí tuệ (đăng ký, bảo hộ, quản lý, khai thác) trong và ngoài nước; thúc đẩy, hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam; ưu tiên thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước.
- Rà soát, cải tiến quy trình, thủ tục hành chính về đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, đặc biệt là các dự án đầu tư vào công nghệ cốt lõi và các lĩnh vực có tính chất nền tảng.
- Rà soát, cải tiến cơ chế khuyến khích doanh nghiệp trong nước tiếp nhận, làm chủ công nghệ được chuyển giao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Có chính sách khuyến khích các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân lớn đầu tư, thuê, mua sắm, sử dụng các sản phẩm của các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số doanh nghiệp.
Triển khai nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số:
- Căn cứ vào mục tiêu của Đề án và mục tiêu của ngành, lĩnh vực liên quan được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong giai đoạn đến năm 2030, các bộ, ngành (i) công bố nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách và (ii) tổ chức lựa chọn doanh nghiệp tham gia, thực hiện tối thiểu 01 nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ để lựa chọn doanh nghiệp tham gia, thực hiện tối thiểu 01 bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Bộ, ngành, địa phương khi giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp tham gia triển khai, giải quyết các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải yêu cầu doanh nghiệp triển khai cam kết tỷ lệ, số lượng doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa trong nước tham gia chuỗi cung ứng thực hiện nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đó.
Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, phát triển thị trường cho doanh nghiệp:
- Căn cứ điều kiện thực tiễn, nhu cầu phát triển và lợi thế đặc thù trong các lĩnh vực hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng, các địa phương nghiên cứu, xem xét triển khai khu thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trước khi triển khai trên quy mô lớn.
- Hỗ trợ kêu gọi các quỹ đầu tư trong nước, quỹ đầu tư nước ngoài đầu tư cho hoạt động triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng theo quy định của pháp luật.
- Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn đặt hàng, chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình, dữ liệu, hỗ trợ chuyển giao công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các viện, trường thông qua các dự án đồng nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ.
- Hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thông qua việc hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thông qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia theo quy định của pháp luật.
- Triển khai việc ưu tiên các doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tham gia chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại nhằm hỗ trợ quảng bá sản phẩm, dịch vụ, kết nối mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
- Triển khai đào tạo, phổ cập, nâng cao kỹ năng số cho cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân thông qua các nền tảng học tập trực tuyến ứng dụng các công nghệ hiện đại để giảng dạy, mô phỏng, cập nhật theo tiêu chuẩn quốc tế.
Đo lường, đánh giá kết quả triển khai Đề án:
Xây dựng hệ thống thông tin để đo lường trực tuyến và định kỳ theo dõi, đánh giá, công bố kết quả triển khai Đề án hàng năm.
Đề án được xây dựng nhằm hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế, đóng vai trò nòng cốt trong nghiên cứu, phát triển, làm chủ và thương mại hóa các công nghệ chiến lược; phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, nguồn nhân lực số và các giải pháp bảo đảm an ninh mạng. Đồng thời, phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số, nâng cao năng lực tự chủ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn mới./.
Tác giả: Quốc Lai
