Hướng dẫn giải quyết tình trạng thiếu nhà ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo

Ngày 04/6/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG hướng dẫn một số nội dung Hợp phần thứ hai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Thông tư này áp dụng đối với các bộ, cơ quan trung ương; Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, đơn vị trực thuộc; cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến phạm vi điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG.

Cụ thể, tại Điều 5 Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG hướng dẫn giải quyết tình trạng thiếu nhà ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như sau:

(1) Đối tượng

Các hộ chưa có nhà ở, nhà ở bị dột nát, hư hỏng hoặc đã được hỗ trợ nhà ở nhưng đến nay không còn nhà ở hoặc nhà ở bị dột nát, hư hỏng, gồm:

- Hộ đồng bào DTTS sinh sống trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN, ưu tiên hộ thuộc các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù;

- Hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo dân tộc Kinh sinh sống ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào DTTS&MN.

(2) Nội dung thực hiện

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng mới 01 căn nhà theo phong tục tập quán của địa phương đáp ứng yêu cầu về chất lượng nhà ở theo quy định của Bộ Xây dựng;

- Hỗ trợ sửa chữa nhà ở đã xuống cấp theo quy định hiện hành của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng.

(3) Nội dung hỗ trợ từ ngân sách nhà nước của Chương trình: kinh phí thường xuyên hỗ trợ thực hiện các nội dung quy định tại (2).

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan phản ánh về Bộ Dân tộc và Tôn giáo để tổng hợp, nghiên cứu, xử lý theo thẩm quyền, hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành./.

                                                                                                   Tác giả: Trần Kiều