Mở rộng chính sách đầu tư bảo vệ rừng đặc dụng

Ngày 26/01/2026 Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (26/01/2026).

Trong đó, đáng chú ý là các sửa đổi liên quan đến chính sách đầu tư đối với rừng đặc dụng. Nghị định này thực hiện việc sửa đổi, bổ sung hàng loạt các quy định quan trọng trong lĩnh vực lâm nghiệp, tác động trực tiếp đến các văn bản pháp luật hiện hành như Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, Nghị định số 58/2024/NĐ-CP, Nghị định số 102/2020/NĐ-CP và Nghị định số 01/2019/NĐ-CP.

Trong đó, những điểm sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về chính sách đầu tư trong lâm nghiệp là đáng chú ý nhất, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong việc tăng cường nguồn lực cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng.

1. Tăng mạnh mức kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng

Nghị định số 42/2026/NĐ-CP đã sửa đổi khoản 2 Điều 5 của Nghị định số 58/2024/NĐ-CP theo hướng tăng mức hỗ trợ và mở rộng phạm vi áp dụng kinh phí bảo vệ rừng.

Cụ thể, mức kinh phí bình quân/ha/năm được nâng lên đáng kể:

- Đối tượng là cộng đồng dân cư: Tăng từ mức cũ lên 1.000.000 đồng/ha/năm.

- Đối tượng là Ban quản lý rừng, tổ chức khác: Tăng lên mức bình quân 500.000 đồng/ha/năm (ngoài kinh phí sự nghiệp thường xuyên).

- Chi phí lập hồ sơ lần đầu: Tăng từ 50.000 đồng/ha lên 150.000 đồng/ha.

Đặc biệt, kinh phí bảo vệ rừng đối với khu vực II, III được tính bằng 1,2 lần mức bình quân, và vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân, nhằm phản ánh đúng mức độ khó khăn và tầm quan trọng của từng khu vực.

2. Mở rộng phạm vi các nội dung chi cho công tác bảo vệ rừng

Khoản 3 Điều 5 cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng đáng kể các hoạt động được phép chi kinh phí, bao gồm:

- Hạ tầng và Kỹ thuật: Chi cho bảo trì, bảo dưỡng, cải tạo công trình phòng cháy chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, cọc mốc ranh giới, và công trình cứu hộ động thực vật rừng.

- Giám sát và Nghiên cứu: Chi theo dõi, thống kê, điều tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng.

- Nhân lực và Cộng đồng: Bổ sung chi cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng, hỗ trợ chi phí đi lại, tập huấn nghiệp vụ, tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, và tuyên truyền giáo dục pháp luật.

- Quản lý: Chi công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và chi lập hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng.

3. Tăng gấp đôi mức hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng đệm

Một điểm nhấn quan trọng khác là sự thay đổi tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP. Mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng đã được tăng gấp đôi, từ 50.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm lên 100.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm.

Ngoài ra, Nghị định 42/2026/NĐ-CP cũng tăng mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên lên 2.500.000 đồng/ha/năm (thay cho mức 1.000.000 đồng/ha/năm trước đây).

Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ tạo ra động lực lớn, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, đồng thời cải thiện rõ rệt đời sống của người dân địa phương gắn liền với rừng./.

Tác giả - Ngọc Phụng