MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (sau đây gọi tắt là Luật) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2026. Theo đó, Luật này quy định về nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (sau đây gọi là hoạt động trí tuệ nhân tạo); quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan và quản lý nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. Hoạt động trí tuệ nhân tạo chỉ phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Đồng thời, Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Thứ nhất, theo Điều 3 Luật trí tuệ nhân tạo quy định như sau:

1. Trí tuệ nhân tạo là việc thực hiện bằng điện tử các năng lực trí tuệ của con người, bao gồm học tập, suy luận, nhận thức, phán đoán và hiểu ngôn ngữ tự nhiên.

2. Hệ thống trí tuệ nhân tạo là hệ thống dựa trên máy, được thiết kế để thực hiện các năng lực trí tuệ nhân tạo với các mức độ tự chủ khác nhau, có khả năng tự thích nghi sau khi được triển khai; căn cứ vào các mục tiêu được xác định rõ ràng hoặc được hình thành một cách ngầm định, hệ thống suy luận từ dữ liệu đầu vào để tạo ra các đầu ra như dự đoán, nội dung, khuyến nghị hoặc quyết định có thể gây ảnh hưởng tới môi trường vật lý hoặc môi trường số.

3. Nhà phát triển là tổ chức, cá nhân thực hiện việc thiết kế, xây dựng, huấn luyện, kiểm thử hoặc tinh chỉnh toàn bộ hoặc một phần mô hình, thuật toán hoặc hệ thống trí tuệ nhân tạo và có quyền kiểm soát trực tiếp đối với phương pháp kỹ thuật, dữ liệu huấn luyện hoặc tham số mô hình.

4. Nhà cung cấp là tổ chức, cá nhân đưa hệ thống trí tuệ nhân tạo ra thị trường hoặc đưa vào sử dụng dưới tên, thương hiệu hoặc nhãn hiệu của mình, không phụ thuộc hệ thống đó do họ tự phát triển hay được phát triển bởi bên thứ ba.

5. Bên triển khai là tổ chức, cá nhân sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc phạm vi kiểm soát của mình trong hoạt động nghề nghiệp, thương mại hoặc cung cấp dịch vụ; không bao gồm trường hợp sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại.

6. Người sử dụng là tổ chức, cá nhân trực tiếp tương tác với hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng kết quả đầu ra của hệ thống đó.

7. Người bị ảnh hưởng là tổ chức, cá nhân bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín hoặc cơ hội tiếp cận dịch vụ do việc triển khai hoặc do kết quả đầu ra của hệ thống trí tuệ nhân tạo.

8. Sự cố nghiêm trọng là sự kiện xảy ra trong hoạt động của hệ thống trí tuệ nhân tạo, gây ra hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền con người, tài sản, an ninh mạng, trật tự công cộng, môi trường hoặc làm gián đoạn hoạt động của hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

 

Thứ hai, nguyên tắc hoạt động AI: Nhấn mạnh “Lấy con người làm trung tâm”

Tại Điều 4 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 đưa ra bốn nguyên tắc cốt lõi định hướng toàn bộ quá trình phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam.

Một là, AI phải lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, an ninh quốc gia và tuân thủ pháp luật. Điều này khẳng định AI không được vận hành ngoài khuôn khổ pháp lý hay gây tổn hại đến giá trị căn bản.

Hai là, AI không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người. Người vận hành luôn phải giữ quyền kiểm soát và khả năng can thiệp vào mọi quyết định do hệ thống AI tạo ra, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống và an ninh dữ liệu.

Ba là, AI phải bảo đảm công bằng, minh bạch và không thiên lệch. Tổ chức, cá nhân sử dụng AI có trách nhiệm phát hiện và ngăn ngừa các sai lệch, phân biệt đối xử, đồng thời phải có khả năng giải trình khi hệ thống đưa ra quyết định.

Cuối cùng, luật khuyến khích AI phát triển theo hướng xanh, tiết kiệm năng lượng và giảm tác động tiêu cực đến môi trường.

Thứ ba, các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trí tuệ nhân tạo

Điều 7 của Luật AI quy định một danh mục nghiêm ngặt các hành vi bị cấm nhằm bảo vệ an ninh, quyền con người và lợi ích chung.

Luật cấm mọi hành vi lợi dụng hoặc chiếm đoạt hệ thống AI để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Đặc biệt, nghiêm cấm phát triển hoặc sử dụng AI nhằm lừa dối, thao túng nhận thức, hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến con người và xã hội.

Điều này bao gồm hành vi tạo nội dung giả mạo như deepfake để lừa đảo hoặc gây hoang mang trong dư luận. Luật cũng cấm lợi dụng điểm yếu của nhóm dễ tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật.

Ngoài ra, thu thập và sử dụng dữ liệu để huấn luyện hoặc vận hành AI trái pháp luật về dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng đều bị cấm.

Việc cản trở cơ chế kiểm soát của con người, che giấu thông tin bắt buộc phải minh bạch hoặc lợi dụng hoạt động nghiên cứu - thử nghiệm để thực hiện hành vi vi phạm cũng thuộc danh mục cấm.

Thứ tư, thiết lập Cổng thông tin một cửa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về AI

Điều 8 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 quy định việc thiết lập hai hạ tầng quản lý quan trọng: Cổng thông tin điện tử một cửa về AI và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống AI.

Cổng thông tin đóng vai trò tiếp nhận đăng ký thử nghiệm có kiểm soát, tiếp nhận thông báo phân loại rủi ro, báo cáo sự cố nghiêm trọng và báo cáo định kỳ; đồng thời công khai thông tin về hệ thống AI, kết quả đánh giá sự phù hợp và xử lý vi phạm.

Cổng còn kết nối các chương trình hỗ trợ, quỹ và hạ tầng dữ liệu dùng chung để tạo hệ sinh thái minh bạch.

Cơ sở dữ liệu quốc gia được xây dựng nhằm lưu trữ thống nhất thông tin về hệ thống AI phục vụ giám sát, hậu kiểm và minh bạch hóa việc vận hành hệ thống.

Việc công khai, chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân. Chính phủ sẽ quy định cơ chế vận hành, khai thác và kết nối hai hệ thống này.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2026 và bãi bỏ một số chương, điều, khoản, điểm của Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15; bãi bỏ khoản 9 Điều 3, khoản 7 Điều 4, khoản 6 Điều 12, điểm đ khoản 2 Điều 34 và Chương IV của Luật Công nghiệp công nghệ số.

Trừ các nội dung liên quan quy định như sau:

1. Đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được đưa vào hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tuân thủ theo quy định của Luật này trong thời hạn sau đây:

a) 18 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục và tài chính;

b) 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này.

2. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 nêu trên, hệ thống trí tuệ nhân tạo được tiếp tục hoạt động, trừ trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo xác định hệ thống có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng thì có quyền yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động./.

 

Tác giả: Huỳnh Diệu