Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ

Ngày 22/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 336/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ.

Nghị  định quy định mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, như sau:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi vi phạm không niêm yết nội quy, giá dịch vụ, tên và số điện thoại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tại bãi đỗ xe theo quy định.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Không thanh toán tiền vé cho hành khách đã mua vé nhưng từ chối chuyến đi trước khi xe khởi hành theo quy định đối với tuyến cố định;

- Không thực hiện đúng quy định về dán, thu hồi phù hiệu cấp cho xe ô tô tham gia kinh doanh vận tải;

- Không bố trí nhân sự thực hiện theo dõi, giám sát hoạt động của lái xe, phương tiện trong suốt quá trình tham gia kinh doanh vận tải theo quy định;

- Tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa ký gửi không đúng quy định;

- Không thực hiện việc miễn giảm giá vé đối với người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng chính sách khác theo quy định;

- Không có hợp đồng đại lý bán vé với đơn vị kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt, đơn vị kinh doanh vận tải theo tuyến cố định theo quy định.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Sử dụng xe ô tô chở người từ 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) trở lên hoặc xe ô tô chở người có thiết kế, cải tạo với số chỗ ít hơn 08 chỗ từ xe ô tô lớn hơn 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) để kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi;

- Không bố trí người trực tiếp điều hành hoạt động vận tải hoặc có bố trí nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định;

- Sử dụng phương tiện thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã để kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, xe bốn bánh có gắn động cơ mà không có hợp đồng dịch vụ giữa thành viên với hợp tác xã theo quy định hoặc sử dụng phương tiện không thuộc quyền sử dụng hợp pháp để kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, xe bốn bánh có gắn động cơ;

- Bến xe không xác nhận hoặc xác nhận không chính xác, đầy đủ các thông tin trong lệnh vận chuyển theo quy định hoặc xác nhận vào lệnh vận chuyển khi xe không có ở bến;

- Bến xe cho phương tiện xuất bến không đúng thời gian biểu đồ chạy xe đã được cơ quan quản lý tuyến công bố;

- Không thực hiện chế độ báo cáo hoạt động kinh doanh vận tải của đơn vị theo quy định;

- Không xây dựng hoặc không thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông theo quy định;

- Bến xe không kê khai, công bố thông tin về giá dịch vụ xe ra, vào bến xe theo quy định của pháp luật về giá;

- Bến xe khách không ký hợp đồng với các đơn vị kinh doanh vận tải theo quy định;

- Không thông báo phương thức tính tiền sử dụng trên xe taxi theo quy định;

- Không lưu trữ đầy đủ theo quy định các hồ sơ, tài liệu có liên quan trong quá trình quản lý, điều hành hoạt động vận tải của đơn vị; không có hệ thống lưu trữ hoặc có nhưng không lưu trữ đầy đủ các khiếu nại của khách hàng theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2026./.

Tác giả: Minh Hải