Nâng cao năng lực quản lý nhà nước, hiệu quả điều hành cung - cầu, bình ổn thị trường vật liệu xây dựng

Ngày 31/3/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký ban hành Quyết định số 527/QĐ-TTg Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 3/2/2026 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới (Kế hoạch). Mục tiêu của Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp của Chỉ thị số 03-CT/TW; tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu trong quản lý, phát triển vật liệu xây dựng giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch yêu cầu trong giai đoạn 2026 - 2030, các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp dưới để hoàn thành tốt các nội dung đã nêu tại Chỉ thị số 03-CT/TW; bảo đảm rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ sản phẩm, rõ tiến độ và rõ trách nhiệm, cụ thể:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của ngành vật liệu xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

Tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung Chỉ thị số 03-CT/TW, làm rõ yêu cầu, quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm; đưa nội dung quản lý, phát triển vật liệu xây dựng vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm và giai đoạn 2026 - 2030 của cấp ủy, chính quyền các cấp; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Đẩy mạnh thông tin, truyền thông về phát triển vật liệu xây dựng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, thân thiện với môi trường; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận, hạn chế tác động tiêu cực đến thị trường vật liệu xây dựng. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp liên quan lĩnh vực vật liệu xây dựng.

2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, quy hoạch, chiến lược, cơ chế, chính sách về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng

Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng; có cơ chế, chính sách khuyến khích thực chất, khả thi thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số gắn với kết quả nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành. Có chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương…

3. Phát triển vật liệu xây dựng phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, gắn với việc triển khai chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

Khuyến khích phát triển các loại vật liệu Việt Nam có lợi thế, vật liệu mới, kỹ thuật cao, thông minh; vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; vật liệu tái chế trên cơ sở đánh giá hiệu quả tổng thể, lâu dài (về kinh tế, môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng). Đa dạng hoá chủng loại, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các sản phẩm, bảo đảm phù hợp với các loại hình công trình, điều kiện khí hậu, đặc thù vùng miền; từng bước thay thế sản phẩm nhập khẩu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Tăng cường điều tra cơ bản, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng và đẩy mạnh cấp phép thăm dò, khai thác theo quy hoạch nhằm bảo đảm nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin toàn quốc liên thông, đồng bộ, thống nhất về vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (cát, đá, vật liệu san lấp,..). Khuyến khích hình thành các khu vực chế biến khoáng sản tập trung, hiệu quả, giảm thất thoát, tiết kiệm tài nguyên. Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ứng dụng triệt để các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng nhiên liệu thay thế, giảm phát thải. Loại bỏ các công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng lạc hậu, gây ô nhiễm, thâm dụng tài nguyên...

4. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Xây dựng cơ chế để thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu, đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng mới, thân thiện môi trường, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao tỷ lệ nội địa hoá trong các khâu sản xuất. Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất, nhất là công nghệ sản xuất ít phát thải, tiết kiệm năng lượng, tận dụng nguyên liệu tái chế, phế thải sau xử lý, sử dụng nhiệt thừa và năng lượng tái tạo…

5. Đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế và phát triển thị trường

Thúc đẩy tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, nâng cao trình độ quản trị và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đầu tư ra nước ngoài, hợp tác phát triển các dự án, tham gia hội chợ, giới thiệu, quảng bá thương hiệu, sản phẩm để mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo dõi, dự báo và thông tin kịp thời diễn biến tình hình cung cầu, thị hiếu, đặc biệt là những thay đổi về yêu cầu, điều kiện nhập khẩu của các thị trường lớn trên thế giới. Quản lý hiệu quả hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng, nhất là các sản phẩm trong nước đã sản xuất được; tăng cường năng lực phòng vệ thương mại.

Đính kèm Quyết định số 527/QĐ-TTg./.

 

                                                                  Tác giả: Văn Dũng