Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức

Ngày 26 tháng 6 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm viên chức. Nghị định quy định về nguyên tắc, danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; việc xác định vị trí việc làm; thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, phê duyệt và điều chỉnh danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Về đối tượng áp dụng, Nghị định áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau đây:

a) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là bộ), gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ (bao gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của bộ, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc bộ, đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài); Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cục và tương đương thuộc bộ (sau đây gọi chung là cục thuộc bộ), thuộc chi cục và tương đương thuộc cục thuộc bộ; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng thuộc bộ.

b) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi chung là sở); Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc chi cục và tương đương thuộc sở; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu.

2. Nghị định này áp dụng đối với viên chức quy định tại Điều 1 Luật Viên chức số 129/2025/QH15.

Về Danh mục vị trí việc làm viên chức, Nghị định quy định danh mục vị trí việc làm viên chức được xác định theo ba nhóm vị trí việc làm khung gồm:

(1) Danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định theo các nhóm vị trí việc làm tại các Danh mục vị trí việc làm khung ban hành kèm theo Nghị định này, gồm: a) Phụ lục I: Danh mục vị trí việc làm quản lý; b) Phụ lục II: Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; c) Phụ lục III: Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ.

(2) Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm.

(3) Việc xác định, sử dụng vị trí việc làm phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; b) Không thay đổi tên gọi vị trí việc làm, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.

(4) Trường hợp một vị trí việc làm được quy định đồng thời trong Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định việc áp dụng một Danh mục vị trí việc làm khung phù hợp trên cơ sở xem xét các tiêu chí sau:

(i) Mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị: Vị trí việc làm thực hiện trực tiếp chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm phục vụ hoạt động quản lý, điều hành hoặc bảo đảm điều kiện hoạt động chung của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

(ii) Tính chất của sản phẩm đầu ra: Vị trí việc làm tạo ra sản phẩm chuyên ngành, có giá trị chuyên môn độc lập và được sử dụng trực tiếp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm tạo ra sản phẩm phục vụ nội bộ hoặc hỗ trợ quá trình hoạt động của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

(iii) Yêu cầu về năng lực chuyên ngành: Vị trí việc làm đòi hỏi kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn hoặc điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm chủ yếu yêu cầu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ dùng chung, có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

(iv) Vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: Vị trí việc làm tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ công cốt lõi của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm có chức năng bảo đảm, phục vụ hoặc hỗ trợ quá trình đó được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

(5) Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Quy định mới về bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Một trong những nội dung mới của Nghị định là quy định thống nhất 05 bậc nghề nghiệp đối với từng vị trí việc làm, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là thấp nhất và bậc 5 là cao nhất.

(1) Bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này và được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bậc nghề nghiệp được xác định theo 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 5 là bậc cao nhất.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm trong đơn vị nhưng không vượt quá số bậc nghề nghiệp được quy định cho vị trí việc làm đó tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

(2) Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó theo quy định tại khoản 3 Điều này. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

(3) Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới theo quy định của cấp có thẩm quyền, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Việc áp dụng bảng lương thực hiện như sau:

a) Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B; bậc 2 áp dụng lương viên chức loại A0;  bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1; bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1); bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).

(4) Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.

Quy định cụ thể về bản mô tả công việc và khung năng lực

Nghị định quy định mỗi vị trí việc làm phải xây dựng 01 bản mô tả công việc và khung năng lực, bao gồm các nội dung cơ bản như:  

(1) Mỗi vị trí việc làm xây dựng 01 bản mô tả công việc và khung năng lực bao gồm các nội dung cơ bản sau: Thông tin chung về vị trí việc làm; mục tiêu của vị trí; công việc, kết quả, sản phẩm đầu ra có thể đo lường được của vị trí việc làm (tương ứng với từng bậc nghề nghiệp); khung năng lực của vị trí việc làm (tương ứng với từng bậc nghề nghiệp); đ) Mối quan hệ công tác; phạm vi, quyền hạn; yêu cầu về trình độ, kinh nghiệm, phẩm chất, bao gồm tiêu chuẩn chuyên môn, nghề nghiệp (nếu có), điều kiện hành nghề (nếu có).

(2) Đối với vị trí việc làm quản lý, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm phải xác định nội dung công việc quản lý, sản phẩm đầu ra của công việc quản lý và năng lực quản lý.

(3) Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức danh, điều kiện hành nghề thì phải tích hợp các nội dung này vào bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm.

(4) Đơn vị sự nghiệp công lập cụ thể hóa nội dung công việc theo lĩnh vực chuyên môn, hoạt động nghề nghiệp, xác định năng lực tương ứng với bậc nghề nghiệp trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm khi áp dụng đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý; việc cụ thể hóa công việc không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm đã được phê duyệt.

(5) Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm viên chức quy định tại Điều này theo hướng dẫn và mẫu tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, các quy định liên quan đến vị trí việc làm viên chức tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập hết hiệu lực thi hành. Trường hợp cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về công tác cán bộ có nội dung khác với quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo quy định mới của cấp có thẩm quyền./.

(Kèm theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP)

                                                              Tác giả: Nguyễn phương