Quyết định số 61/2025/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030. Theo đó, Quyết định số 61/2025/QĐ-UBND có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2025.
* Sự cần thiết, mục đích ban hành:
- Sự cần thiết ban hành
+ Cơ sở chính trị, pháp lý
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 19 tháng 02 năm 2025 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 25 tháng 6 năm 2025), quy định “2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”.
Căn cứ khoản 5 Điều 53 Luật Chăn nuôi ngày 19 tháng 11 năm 2018, quy định:“Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào mật độ chăn nuôi của vùng quy định mật độ chăn nuôi của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”.
Căn cứ khoản 4 Điều 22 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi, quy định: “4. Căn cứ chiến lược phát triển chăn nuôi, công nghệ chăn nuôi và môi trường sinh thái, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mật độ chăn nuôi của địa phương nhưng không vượt quá mật độ chăn nuôi vùng quy định tại khoản 3 Điều này”.
+ Cơ sở thực tiễn
Thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành Quyết định số 20/2021/QĐ-UBND ngày 11 tháng 11 năm 2021 quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 17/2021/QĐ-UBND ngày 15 tháng 11 năm 2021 quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 và Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 10 tháng 12 năm 2021 quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đến năm 2030.
Căn cứ khoản 19 Điều 1 Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, quy định: “Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ”; đồng thời căn cứ điểm b khoản 2 Điều 54 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 19 tháng 02 năm 2025 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 25 tháng 6 năm 2025), quy định: “Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được nhập tiếp tục có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được nhập hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới” thì các Quyết định nêu trên đang có hiệu lực thi hành.
Tuy nhiên sau sắp xếp theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 thì thành phố Cần Thơ (mới) có diện tích và quy mô dân số thay đổi nhiều, tình hình kinh tế xã hội cũng có nhiều thay đổi, việc áp dụng các Quyết định do chính quyền địa phương cũ ban hành đã không còn phù hợp với tình hình mới, dự báo sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; khó khăn trong công tác phối hợp tham mưu giữa các cơ quan, đơn vị, cũng như ảnh hưởng đến hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như đời sống của người dân.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 190/2025/NQ-QH15 ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Quốc Hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, quy định: “Cơ quan, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thấm quyển hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn để xử lý các văn bản chịu sự tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 3 năm 2027”.
Do đó, thành phố Cần Thơ cần sớm ban hành Quyết định mới thay thế các Quyết định nêu trên để thống nhất quy định về mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030, đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững gắn với môi trường sinh thái, hạn chế lây lan dịch bệnh, tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.
Với căn cứ pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc ban hành “Quyết định quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030” là thật sự cần thiết đáp ứng yêu cầu phát triển chăn nuôi và bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Cần Thơ mới sau khi sáp nhập.
- Mục đích ban hành:
Ban hành Quyết định Quy đinh mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Chăn nuôi năm 2018 và Nghị định số 13/2020/NĐ-CP là giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mật độ chăn nuôi của địa phương nhưng không vượt quá mật độ chăn nuôi vùng quy định.
Hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ áp dụng trong thực tế hoạt động chăn nuôi tại địa phương góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn, bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội.
* Nội dung chủ yếu:
Quyết định số 61/2025/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030, gồm 05 điều:
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1)
Phạm vi điều chỉnh: Quyết định này quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030.
Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
- Quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 (Điều 2)
Mật độ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030 không quá 1,0 đơn vị vật nuôi trên 01 ha đất nông nghiệp (ĐVN/ha).
- Tổ chức thực hiện (Điều 3)
- Hiệu lực thi hành (Điều 4)
- Trách nhiệm thi hành (Điều 5)
(Đính kèm Quyết định số 61/2025/QĐ-UBND)

