Quy định về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm và việc kết nối, khai thác thông tin

Ngày 19 tháng 8 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.

Theo đó, Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm và việc kết nối, khai thác thông tin như sau:

Nguyên tắc định danh địa điểm:

1. Mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.

2. Đối với loại đối tượng có kết cấu theo chiều dài tiếp giáp dọc đường giao thông và có thể tiếp cận đối tượng từ bất cứ vị trí nào dọc đoạn đường giao thông đó thì cách gán định danh địa điểm cho đối tượng được áp dụng như đối với đường giao thông. Theo đó, địa điểm của đối tượng sẽ gồm địa chỉ điểm đầu, địa chỉ điểm cuối, địa chỉ tại các nút giao, điểm giao cắt trên tuyến hoặc điểm giao cắt với địa giới hành chính cấp tỉnh.

3. Việc định danh địa điểm, cấp mã định danh địa điểm được thực hiện dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm kế thừa, đồng bộ, thống nhất; không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định của pháp luật.

4. Việc thực hiện định danh địa điểm phải bảo đảm tuân thủ quy định về quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

5. Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài.

6. Cơ quan nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm hoặc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chứa dữ liệu gốc về sự hình thành, tồn tại, biến động của đối tượng có trách nhiệm chủ trì rà soát, chuẩn hóa, thu thập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã định danh địa điểm.

2. Cấu trúc định danh địa điểm

Điều 4. Cấu trúc định danh địa điểm

Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập.

Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, khả năng mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

1. Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

2. Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm bao gồm:

- Mã định danh địa điểm;

- Đối tượng định danh địa điểm;

- Địa chỉ của địa điểm;

- Lối tiếp cận;

- Mã bưu chính;

- Thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên);

- Các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có);

- Trạng thái hoạt động của địa điểm: đang hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính chất của địa điểm;

- Tên địa điểm;

- Thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có);

- Thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm (nếu có);

- Cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên cơ quan, số định danh tổ chức);

- Dấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có);

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có);

- Thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên; thông tin mô tả địa chỉ;

- Các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Điều kiện, trình tự kết nối, khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm:

1. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu kết nối đối tượng định danh địa điểm phải bảo đảm hệ thống thông tin đang quản lý đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống thông tin tối thiểu cấp độ 3.

2. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu kết nối theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định này gửi văn bản đề nghị, nêu rõ phạm vi và mục đích thực hiện kết nối, đến Cơ quan quản lý định danh địa điểm.

3. Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Cơ quan quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm có trách nhiệm phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an thực hiện kiểm tra an ninh, an toàn hệ thống thông tin của đơn vị đề nghị kết nối (trừ hệ thống thông tin quân sự và hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ); thống nhất với cơ quan, tổ chức chủ quản cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin cần kết nối kết quả kiểm tra bằng văn bản.

4. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc kiểm tra, Cơ quan quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm tiến hành việc kết nối Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm với cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức đề nghị kết nối.

5. Cơ quan, tổ chức được kết nối, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm có trách nhiệm lưu trữ, cung cấp lịch sử khai thác, sử dụng thông tin cho Cơ quan quản lý định danh địa điểm khi có yêu cầu phục vụ quản lý nhà nước.

6. Thông tin được khai thác từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm chỉ được sử dụng đúng mục đích cho phép và không được chuyển giao, chia sẻ hoặc cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác dưới mọi hình thức. Việc chia sẻ thông tin chỉ được thực hiện khi có yêu cầu hoặc sự đồng ý của chủ thể dữ liệu theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

Đồng thời, Nghị định quy định cụ thể trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thu thập, tạo lập, cập nhật dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

2. Phân công, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thu thập, kiểm tra, cập nhật và quản lý dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ định danh địa điểm theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quản lý của từng cơ quan, đơn vị tương ứng với danh mục đối tượng được định danh ban hành theo Nghị định này.

3. Tổ chức đánh số, gắn biển số nhà, công trình xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng; đặt tên, đổi tên đường, phố, công trình công cộng theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

4. Thực hiện thu thập, tạo lập dữ liệu bản đồ nền, dữ liệu không gian phục vụ xây dựng bản sao số, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

Tác giả: Minh Hải