TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH VÀ HÌNH SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐẤT

Trong thực tiễn quản lý nhà nước về đất đai, việc hiểu đúng ranh giới giữa xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi lấn, chiếm đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp người dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời là cơ sở để các cơ quan chức năng áp dụng pháp luật thống nhất, đúng quy định pháp luật.

Trách nhiệm hành chính khi lấn chiếm đất

Theo khoản 6 Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể mức xử phạt đối với hành vi lấn đất, chiếm đất căn cứ vào diện tích đất vi phạm và khu vực xảy ra vi phạm (nông thôn hoặc đô thị). Theo đó, hành vi lấn đất hoặc chiếm đất thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn thì mức xử phạt bằng 02 lần mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và mức phạt tối đa không quá 500.000.000 đồng đối với cá nhân, không quá 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

Theo đó, có nghĩa là sau 01 năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt, người bị xử phạt về hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai nếu vẫn chưa thi hành Quyết định xử phạt (thi hành xong gồm phần tiền và phần biện pháp khắc phục hậu quả hoặc chỉ mới thi hành xong  một phần tiền) có nghĩa là vẫn chưa thi hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, sẽ chưa được coi là chưa bị xử phạt nếu tiếp tục vi phạm. Do đó sẽ thuộc trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai.

Trường hợp chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính?

Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính (Điều 7 Luật XLVPHC).

Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 năm. Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

+ Đối với các hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đã kết thúc thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm;

+ Đối với các hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đang thực hiện thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.

Ví dụ:

Hộ gia đình ông A tại một xã ven đô thị, tự ý lấn chiếm 120 m² đất do UBND xã quản lý (đất giao thông nội đồng) để xây dựng hàng rào và trồng cây lâu năm. Việc lấn chiếm được thực hiện công khai, kéo dài nhiều tháng nhưng chưa gây tranh chấp, chưa phát sinh hậu quả nghiêm trọng. Kết quả kiểm tra, xác minh, cho thấy hộ ông A tự ý lấn chiếm là đất công cộng, chưa giao cho cá nhân, tổ chức sử dụng; đồng thời ông A không xuất trình được giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất.  Ông A có hành vi vi phạm lần đầu, chưa từng bị xử phạt. Căn cứ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền đối với hành vi chiếm đất công; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất; Buộc trả lại đất đã lấn chiếm cho Nhà nước quản lý.

Trách nhiệm hình sự khi lấn chiếm đất

 Theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Theo đó, một người nếu trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi như: lấn chiếm đất (công), sử dụng đất không đúng mục đích, hủy hoại đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi không có đủ điều kiện chuyển nhượng hoặc không được phép chuyển nhượng … nếu chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện một trong các hành vi này thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt; cá nhân đã bị ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà lại thực hiện hành vi thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đó”.

Ví dụ:

Ông B lấn chiếm hơn 1.000 m² đất trồng lúa để san lấp, xây dựng nhà xưởng trái phép. Trước đó, ông B đã bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này (tái phạm); đồng thời bị buộc khôi phục lại hiện trạng, nhưng không chấp hành, tiếp tục mở rộng diện tích lấn chiếm. Sau nhiều lần vận động, cưỡng chế không thành… Qua xác minh cho thấy hành vi của ông B gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, giá trị quyền sử dụng đất bị xâm phạm lớn, thời gian vi phạm kéo dài và có dấu hiệu cố ý, coi thường pháp luật. Căn cứ Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 năm 2025), cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ chuyển cơ quan điều tra để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai.

Tóm lại, trách nhiệm hành chính là biện pháp xử lý phổ biến, mang tính giáo dục, phòng ngừa; còn trách nhiệm hình sự là ranh giới pháp lý nghiêm khắc, áp dụng đối với hành vi cố ý, tái phạm hoặc gây hậu quả lớn. Việc tuân thủ pháp luật về đất đai không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là trách nhiệm chung trong việc bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên./.

Tác giả: Minh Hải