Ngày 27/01/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành Kế hoạch số 43/KH-UBND triển khai thực hiện Quyết định số 2270/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045” trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Kế hoạch được ban hành nhằm cụ thể hoá nhiệm vụ, giải pháp quy định tại Quyết định số 2270/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045” (sau đây gọi tắt là Quyết định số 2270/QĐ-TTg) để đạt mục tiêu đề ra, phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố Cần Thơ; Làm căn cứ để các đơn vị xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khai, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả; c) Đảm bảo tất cả trẻ em mầm non ở địa bàn đô thị, địa bàn có khu công nghiệp của thành phố được tiếp cận dịch vụ giáo dục mầm non (GDMN) chất lượng, công bằng và bình đẳng, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội; Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở GDMN; đổi mới mô hình GDMN phù hợp với đặc thù địa phương; tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị, môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ em từ 06 tháng đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu được đến trường, lớp; Huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, doanh nghiệp, hợp tác quốc tế và lồng ghép với các chương trình, dự án khác để triển khai hiệu quả Chương trình trên địa bàn; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và truyền thông cộng đồng.
Đối tượng gồm trẻ em mầm non; cán bộ quản lý; giáo viên mầm non và nhân viên; cha mẹ hoặc người giám hộ trẻ em (sau đây gọi chung là cha mẹ trẻ em); các cơ sở GDMN; các tổ chức, cá nhân có liên quan. Phạm vi triển khai tại địa bàn đô thị theo quy định; địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, nơi có nhiều lao động theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là khu công nghiệp).
Kế hoạch đề ra mục tiêu chung nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng GDMN ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp giúp trẻ em được tiếp cận dịch vụ GDMN chất lượng, công bằng và bình đẳng.
Tại Kế hoạch quy định các nhiệm vụ, giải pháp gồm:
1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển GDMN ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp
Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng trường mầm non cho con công nhân, người lao động tại khu công nghiệp;
Xây dựng chính sách đặc thù địa phương đối với GDMN ở địa bàn khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động: chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ là con công nhân, người lao động; chính sách đối với cơ sở GDMN nhận trẻ em từ 06 tháng đến 36 tháng tuổi và chính sách đối với trẻ em là con công nhân, người lao động phù hợp với điều kiện thực tế.
2. Triển khai đa dạng các mô hình GDMN và vận dụng có chọn lọc các mô hình GDMN tiên tiến phù hợp đặc thù địa phương, đáp ứng nhu cầu gửi trẻcủa công nhân, người lao động ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp
Bố trí quỹ đất để xây dựng các cơ sở GDMN theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó ưu tiên quỹ đất tại các dự án khu đô thị mới nhằm bảo đảm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Đồng thời, rà soát, ưu tiên sử dụng các trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hành chính tại địa phương để chuyển đổi, bổ sung cơ sở vật chất phục vụ GDMN theo quy định. Tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cơ sở GDMN ngoài công lập, góp phần mở rộng mạng lưới trường, lớp, huy động hiệuquả các nguồn lực xã hội tham gia phát triển GDMN;
Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ GDMN không sử dụng ngân sách Nhà nước tại cơ sở GDMN công lập theo quy định của pháp luật đáp ứng nhu cầu của cha mẹ trẻ cùng với chính sách hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên làm việc ngoài giờ;
Áp dụng mô hình hợp tác giữa Nhà nước và các đơn vị cung cấp dịch vụ GDMN ngoài công lập theo hình thức Hợp đồng kinh doanh - quản lý (O&M) theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư với mức học phí phù hợp với thu nhập của công nhân, người lao động;
Xây dựng, phát triển mô hình cơ sở GDMN trong các dự án nhà ở xã hội tại địa phương phù hợp với nhu cầu của công nhân, người lao động;
Vận dụng có chọn lọc các mô hình GDMN tiên tiến thông qua việc học tập, chia sẻ kinh nghiệm về GDMN của các nước trong khu vực và thế giới.
3. Triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 06 tháng đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động ở địa bàn khu công nghiệp
(i) Đa dạng hóa hình thức hướng dẫn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên trong cơ sở GDMN
- Xây dựng và số hóa bộ tài liệu hướng dẫn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em 06 tháng đến 36 tháng tuổi;
- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; hội thảo/sinh hoạt chuyên đề về giáo dục, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an toàn cho trẻ em hằng năm;
- Xây dựng mạng lưới chuyên gia, tình nguyện viên để hỗ trợ, tư vấn chuyên môn và ứng dụng chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở GDMN độc lập dân lập, tư thục.
(ii) Bảo đảm các điều kiện nhận trẻ từ 06 tháng đến 36 tháng tuổi tại cơ sở GDMN
- Bố trí đủ định mức giáo viên theo quy định và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi đối với các nhóm trẻ trong trường mầm non công lập, bảo đảm các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của công nhân, người lao động tại địa bàn có khu công nghiệp và nơi tập trung đông lao động;
- Bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương hỗ trợ giáo viên mầm non trong cơ sở GDMN dân lập, tư thục ở địa bàn khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động được đào tạo trình độ đạt chuẩn theo quy định;
- Huy động nguồn lực từ các Chương trình, Dự án, các tổ chức phi Chính phủ, nguồn viện trợ không hoàn lại hỗ trợ cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở GDMN độc lập dân lập, tư thục;
- Khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có của địa phương, bao gồm các công trình công cộng như sân chơi, thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở và các công trình phục vụ cộng đồng khác, nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở GDMN độc lập, dân lập, tư thục tổ chức các hoạt động giáo dục, vui chơi, rèn luyện kỹ năng cho trẻ em theo quy định; góp phần mở rộng không gian giáo dục, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
- Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua việc đầu tư xây dựng các cơ sở GDMN hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, gắn với khu nhà ở tại các khu công nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu gửi trẻ của công nhân, người lao động, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững nguồn nhân lực tại địa phương
(iii) Phổ biến tài liệu hướng dẫn về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục trẻ em dành cho cha mẹ trẻ em; tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ bằng các hình thức phù hợp với đặc thù của công nhân, người lao động.
4. Tăng cường công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội hóa gắn với trách nhiệm doanh nghiệp, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để triển khai các mô hình GDMN phù hợp với địa bàn đô thị, khu công nghiệp và nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ
Huy động sự phối hợp, tham gia từ các chương trình, dự án, các tổ chức phi Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hỗ trợ triển khai thực hiện các mô hình GDMN phù hợp với địa bàn đô thị, khu công nghiệp;
Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thông qua các hình thức đầu tư hoặc đóng góp kinh phí để xây dựng cơ sở GDMN phục vụ con công nhân, chi trả một phần chi phí gửi trẻ cho người lao động có con trong lứa tuổi mầm non;
Huy động nguồn lực từ các tổ chức quốc tế hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho giáo viên, nhân viên tại cơ sở GDMN.
5. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ sở GDMN và phối hợp liên ngành
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền trong việc phát triển GDMN; đưa mục tiêu phát triển GDMN tại địa bàn đô thị, khu công nghiệp vào kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
Đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành cùng các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở GDMN tại địa bàn đô thị, khu công nghiệp;
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện sắp xếp, tổ chức lại cơ sở GDMN; kiểm tra trách nhiệm của các chủ đầu tư các dự án khu đô thị mới trong việc dành quỹ đất và xây dựng các cơ sở GDMN theo quy hoạch đã được phê duyệt;
Phát triển, hoàn thiện dữ liệu GDMN ở địa bàn đô thị, khu công nghiệpvà theo dõi, đánh giá thực hiện Chương trình; chỉ đạo cơ sở GDMN độc lập dân lập, tư thục tự kiểm tra, đánh giá các tiêu chuẩn về an toàn, thường xuyên cập nhật thông tin, tình hình hoạt động của cơ sở lên phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu ở địa phương.
6. Đẩy mạnh công tác truyền thông
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phát triển GDMN ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng cơ sở GDMN cho con công nhân, người lao động tại khu công nghiệp;
Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến về sự cần thiết, mục tiêu,nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệmcủa các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cha mẹ trẻ em, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cộng đồng trong việc đầu tư, chăm lo phát triển GDMN tại địa bàn đô thị, khu công nghiệp. Xây dựng các nội dung tuyên truyền về Chương trình nâng cao chất lượng GDMN tại địa bàn đô thị, khu công nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng ở thành phố và địa phương;
Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an toàn và phát triển toàn diện đối với trẻ em mầm non trên các phương tiện thông tin đại chúng./.
Tác giả: Hồng Vân
