Cần Thơ quy định về đảm bảo tài chính thực hiện Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030, giai đoạn 2026-2030

Ngày 13/10/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành Kế hoạch số 485/KH-UBND đảm bảo tài chính thực hiện Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 trên địa bàn thành phố Cần Thơ, giai đoạn 2026-2030.

Tại Kế hoạch quy định các nội dung hoạt động như sau:

(1) Công tác tổ chức chỉ đạo và phối hợp liên ngành

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; kiện toàn cơ chế chỉ đạo, phối hợp giữa ngành Y tế, sở, ban, ngành, đoàn thể và Ủy ban nhân dân xã, phường, phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xác định rõ trách nhiệm từng đơn vị trong bảo đảm nguồn lực cho phòng, chống HIV/AIDS;

- Ngành Y tế giữ vai trò đầu mối; huy động các cơ sở y tế công lập, ngoài công lập, tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia; lồng ghép hoạt động HIV/AIDS vào các chương trình y tế và nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; định kỳ kiểm tra, giám sát, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện.

(2) Tăng cường xét nghiệm HIV Nâng cao chất lượng tư vấn, xét nghiệm HIV tại cộng đồng và cơ sở y tế, từng bước mở rộng tại Trạm Y tế, ưu tiên địa bàn có nhóm nguy cơ cao; củng cố kết nối, chuyển gửi, quản lý 100% ca dương tính đến cơ sở điều trị và người âm tính còn nguy cơ đến dịch vụ dự phòng.

(3) Thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi và dự phòng lây nhiễm HIV

- Đa dạng hóa truyền thông (đại chúng, trực tiếp, nền tảng số, mạng xã hội) phù hợp từng nhóm đối tượng; ưu tiên giới trẻ, học sinh, sinh viên, khu công nghiệp, nhóm MSM; truyền thông giảm kỳ thị, phân biệt đối xử, hiệu quả điều trị ARV (K=K), PrEP, lợi ích của bảo hiểm y tế; tổ chức các sự kiện Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, Tháng hành động quốc gia và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS (01/12);

- Triển khai can thiệp dự phòng cho nhóm nguy cơ cao (người sử dụng ma túy, MSM, người chuyển giới nữ, phụ nữ bán dâm, bạn tình, bạn chích); củng cố đội ngũ cộng tác viên, nhân viên tiếp cận cộng đồng tại khu vực còn thiếu dịch vụ;

- Duy trì PrEP qua hệ thống y tế công lập và tư nhân; củng cố các cơ sở điều trị Methadone, tăng cường tư vấn tuân thủ, vận động người nghiện chích ma túy tham gia điều trị mới và quay lại điều trị.

 

(4) Chăm sóc điều trị HIV/AIDS và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

- Duy trì, nâng cao chất lượng điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú; quản lý chất lượng điều trị, cảnh báo sớm HIV kháng thuốc; bảo đảm xét nghiệm tải lượng vi rút thường quy; tăng cường dự phòng, phát hiện, điều trị các bệnh đồng nhiễm (lao, viêm gan B, C, các bệnh lây truyền qua đường tình dục);

- Vận động 100% người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm y tế; mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV có hộ khẩu tại Cần Thơ theo Nghị quyết 26/2025/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố; bảo đảm kinh phí đồng chi trả thuốc ARV, thực hiện đúng quy trình thanh toán qua Quỹ bảo hiểm y tế;

- Duy trì chương trình, bảo đảm trên 95% phụ nữ mang thai được tư vấn xét nghiệm sớm HIV và 95% phụ nữ mang thai nhiễm HIV cùng con được điều trị dự phòng bằng thuốc ARV; tiến tới loại trừ lây truyền HIV, viêm gan B và giang mai từ mẹ sang con vào năm 2030; duy trì kết nối, chuyển gửi, phản hồi giữa cơ sở chăm sóc sức khỏe sinh sản với cơ sở điều trị HIV/AIDS; quản lý cặp mẹ - con, bảo đảm chuyển tiếp thành công đến cơ sở điều trị.

 (5) Cung ứng thuốc, sinh phẩm, vật dụng can thiệp và trang thiết bị phục vụ hoạt động chương trình phòng, chống HIV/AIDS Bảo đảm cung ứng đầy đủ, liên tục thuốc, sinh phẩm, vật dụng can thiệp và trang thiết bị phục vụ hoạt động chương trình phòng, chống HIV/AIDS, nhất là không để gián đoạn điều trị do thiếu thuốc.

(6) Giám sát, theo dõi, đánh giá và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS a) Giám sát dịch tễ 100% xã, phường, rà soát người nhiễm HIV thực tế tại địa phương; duy trì giám sát trọng điểm HIV/STI, giám sát hành vi, áp dụng kỹ thuật chẩn đoán mới nhiễm; ước tính quần thể nguy cơ cao, dự báo dịch; b) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý chương trình thông qua phần mềm HIV INFO, hệ thống HMED và các phần mềm chuyên ngành khác, bảo đảm kết nối, liên thông dữ liệu giữa các tuyến; Thu thập, tổng hợp, sử dụng số liệu định kỳ; lập bản đồ khu vực lây nhiễm cao; ứng dụng công nghệ thông tin trong cảnh báo sớm, kiểm soát và đáp ứng y tế công cộng.

 (7) Tăng cường nâng cao năng lực hệ thống phòng chống HIV/AIDS, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.

- Kiện toàn hệ thống phòng, chống HIV/AIDS phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xác định rõ chức năng và cơ chế phối hợp giữa tuyến thành phố, cơ sở y tế, Trạm Y tế; mở rộng mạng lưới dịch vụ tại khu vực còn thiếu, lồng ghép vào hệ thống y tế cơ sở;

- Đào tạo, tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, giám sát cho cán bộ, ưu tiên cán bộ mới và tuyến xã, phường; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng, chia sẻ và sử dụng dữ liệu HIV/AIDS;

- Duy trì và phát huy hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực tài trợ từ các dự án nhằm góp phần bổ sung nguồn lực cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS của thành phố.

 (8) Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phòng, chống HIV/AIDS Củng cố vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng, mạng lưới người nhiễm HIV, người có hành vi nguy cơ cao, nhân viên tiếp cận cộng đồng; tăng cường phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, cơ sở giáo dục, y tế tư nhân, tổ chức xã hội để tiếp cận nhóm khó tiếp cận và giảm kỳ thị, phân biệt đối xử.

9. Bảo đảm tài chính cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

- Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài chính cho phòng, chống HIV/AIDS, trong đó ngân sách nhà nước và Quỹ Bảo hiểm y tế từng bước giữ vai trò chủ đạo; đồng thời, tiếp tục huy động nguồn viện trợ quốc tế và các nguồn lực hợp pháp khác trong giai đoạn chuyển tiếp;

- Ưu tiên nguồn lực cho các hoạt động thiết yếu (giám sát dịch, truyền thông và can thiệp dự phòng, xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS, xét nghiệm theo dõi điều trị, dự phòng lây truyền mẹ sang con), các địa bàn còn khoảng trống dịch vụ và nhóm nguy cơ cao;

- Mở rộng sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế chi trả dịch vụ khám, chữa bệnh HIV/AIDS, thuốc ARV, xét nghiệm; duy trì hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV, giảm phụ thuộc vào viện trợ;

- Xây dựng lộ trình chuyển đổi nguồn tài chính đối với các hoạt động phụ thuộc viện trợ (PrEP, tiếp cận cộng đồng, sinh phẩm, hỗ trợ kỹ thuật), từng bước bố trí ngân sách trong nước để duy trì khi viện trợ giảm hoặc kết thúc; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích y tế tư nhân, tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ./.

Tác giả: Văn Quân