Ngày 12/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035.
Nghị định này quy định chi tiết nội dung, cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (sau đây gọi là Chương trình) như sau:
- Mục tiêu, phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện, nguồn lực và nội dung của Chương trình.
- Huy động, lồng ghép, phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn lực thực hiện Chương trình.
- Cơ chế đặc thù thực hiện Chương trình.
- Tiêu chí đánh giá kết quả, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xây dựng Cơ sở dữ liệu của Chương trình.
- Mô hình quản lý và trách nhiệm tổ chức thực hiện Chương trình.
Đối tượng áp dụng gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi là Bộ, cơ quan trung ương), địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị, các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia quản lý, tổ chức thực hiện hoặc thụ hưởng chính sách thuộc Chương trình.
Về nguyên tắc thực hiện được quy định như sau:
1. Quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên tục, đúng mục tiêu, phạm vi, đối tượng theo chủ trương đầu tư được Quốc hội quyết định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
2. Phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo phương châm địa phương quyết định, địa phương tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả và bảo đảm không làm thay đổi quyền lợi và khả năng tiếp cận chính sách của đối tượng thụ hưởng, không làm giảm mức hỗ trợ tối thiểu theo quy định của cấp có thầm quyền và thực hiện đầy đủ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Chương trình.
3. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn lực thực hiện mục tiêu của Chương trình; ưu tiên ở mức cao nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vùng có nguy cơ thiên tai cao và các địa bàn, lĩnh vực cần ưu tiên theo quy định của cấp có thẩm quyền.
4. Quản lý, sử dụng nguồn lực của Chương trình phải tuân thủ quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục tiêu, đối tượng hỗ trợ của Chương trình, không trùng lặp, chồng chéo về đối tượng, địa bàn, nội dung của chương trình, dự án, chính sách khác.
5. Thực hiện công khai, minh bạch; bảo đảm quyền tham gia của người dân, cộng đồng dân cư, bảo đảm bình đẳng giới; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, theo dõi, giám sát và đánh giá Chương trình; lấy mức độ hài lòng, thụ hưởng thực tế của người dân đánh giá hiệu quả thực hiện Chương trình.
6. Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, tổ chức thực hiện, theo dõi, thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá Chương trình; thực hiện kết nối, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu dùng chung; đơn giản hóa thủ tục hành chính, không yêu cầu cung cấp lại thông tin, dữ liệu đã được cập nhật, kết nối, chia sẻ và giảm khâu trung gian trong quản lý, điều hành Chương trình.
Ngoài ra, tại Điều 50 Nghị định quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp như sau:
(1) Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định bố trí ngân sách địa phương đối ứng thực hiện các nội dung của Chương trình, thực hiện tín dụng chính sách xã hội; quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình tại địa phương, cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn lực cho cấp xã và các cơ chế, chính sách, định mức chi, định mức hỗ trợ, định mức kỹ thuật khác theo thẩm quyền;
- Ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình giai đoạn 05 năm và hằng năm; cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu được giao phù hợp với điều kiện thực tế, nhu cầu và khả năng cân đối nguồn lực của địa phương; xác định nội dung, địa bàn, đối tượng, nhiệm vụ, dự án ưu tiên theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Chương trình trên địa bàn;
- Quyết định phân bổ, giao, điều chỉnh ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình; quyết định các cơ chế, chính sách, giải pháp tổ chức thực hiện, mức chỉ, mức hỗ trợ và các nội dung khác thuộc thẩm quyền của địa phương theo quy định của pháp luật và Nghị định này; tổ chức huy động, lồng ghép, sử dụng các nguồn lực;
- Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện các nội dung, hoạt động của Chương trình thuộc trách nhiệm của địa phương theo quy định tại Điều 45 Nghị định này; thống nhất với Bộ, cơ quan trung ương danh mục và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động được giao theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 45 Nghị định này; kịp thời xử lý theo thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc phát sinh; trường hợp vượt thẩm quyền, tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý;
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực; phối hợp, cung cấp thông tin và tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia, giám sát việc thực hiện Chương trình theo quy định;
- Tổ chức theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình; cập nhật đầy đủ, kịp thời thông tin, dữ liệu trên hệ thống dùng chung và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
(2) Trách nhiệm chung của Ủy ban nhân dân cấp xã
- Căn cứ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực được giao, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch Chương trình trên địa bàn theo phân cấp; xác định nhu cầu, đề xuất và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, dự án phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu của người dân;
- Quyết định hoặc tổ chức thực hiện việc phân bổ, sử dụng nguồn lực được giao theo thẩm quyền; huy động, lồng ghép các nguồn lực hợp pháp để thực hiện Chương trình; chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, hiệu quả và kết quả thực hiện các nhiệm vụ, dự án trên địa bàn;
- Tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách, giải pháp tổ chức thực hiện theo thẩm quyền phân cấp và mức hỗ trợ theo quy định; xử lý theo thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc phát sinh; kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với nội dung vượt thẩm quyền;
- Thực hiện công khai nội dung, nguồn lực, đối tượng thụ hưởng, tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức có liên quan tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, phát huy sự tham gia và giám sát của cộng đồng theo quy định và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; cập nhật đầy đủ, kịp thời thông tin, dữ liệu trên hệ thống dùng chung và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 10 năm 2026./.
Tác giả: Thuý Vi








