Ngày 29 tháng 9 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Nghị định này quy định về Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa; quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá theo quy định tại Nghị định này được thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hoá căn cứ vào mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hoá như sau:
(1) Đối với sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hoá và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc; danh mục, lộ trình áp dụng, phương thức thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa, sự kiện trọng yếu và yêu cầu dữ liệu chuyên ngành do bộ quản lý ngành, lĩnh vực xác định, quyết định theo thẩm quyền, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và đặc thù phát triển của từng ngành hàng. Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thực hiện chức năng kỹ thuật về định danh, xác thực, đối chiếu, lưu vết, kết nối và chia sẻ dữ liệu trên cơ sở danh mục, lộ trình và yêu cầu chuyên ngành đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành;
(2) Đối với sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro thấp, việc định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được khuyến khích thực hiện tự nguyện theo quy định tại Nghị định này.
Đối với sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu, việc áp dụng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc theo quy định tại Nghị định này được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân chủ động áp dụng để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, thị trường xuất khẩu và hoạt động thương mại quốc tế.
Sản phẩm, hàng hóa tạm nhập tái xuất; sản phẩm, hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; sản phẩm, hàng hóa trung chuyển; sản phẩm hàng hóa nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất khẩu sang nước thứ ba không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Không áp dụng quy định bắt buộc định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc tại Nghị định này đối với sản phẩm, hàng hóa trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, cơ yếu có yêu cầu bảo mật về nguồn gốc, xuất xứ.
Các nội dung về nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Nghị định này áp dụng đối với:
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; quản lý, vận hành, khai thác Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh, phân phối, nhập khẩu, vận chuyển, lưu kho sản phẩm, hàng hóa.
- Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử đối với sản phẩm, hàng hoá.
- Tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng thông tin trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.
- Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Tại Điều 4 Nghị định quy định về nguyên tắc xây dựng, quản lý và sử dụng, khai thác Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá; Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa như sau:
(1) Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa được xây dựng và quản lý tập trung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, có tính mở, đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về cơ sở dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng, mô hình phân quyền; đáp ứng quy định theo Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia; bảo đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan được cấp quyền truy cập khởi tạo, chia sẻ, cập nhật, cung cấp thông tin, dữ liệu và thực hiện tra cứu, quản lý sản phẩm, hàng hoá trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi quản lý và sử dụng.
(2) Việc xây dựng, quản lý và sử dụng, khai thác Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá; Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa bảo đảm phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, công khai, minh bạch thông tin, dữ liệu về định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá.
(3) Các thông tin, dữ liệu được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa phải được làm sạch dữ liệu; có nguồn xác thực hợp pháp, phản ánh đúng hiện trạng về pháp lý; đầy đủ các trường thông tin theo quy định tại Nghị định này, được cập nhật thường xuyên theo quy định; mọi bản ghi dữ liệu được lưu vết truy cập, chỉnh sửa, cập nhật, đảm bảo khả năng truy xuất lịch sử thay đổi và biến động dữ liệu.
(4) Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa được quản lý chặt chẽ, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật kinh doanh; bảo đảm hiệu quả, đơn giản, thuận tiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện dịch vụ công, thủ tục hành chính và các hoạt động khác.
(5) Thông tin, dữ liệu về sản phẩm, hàng hoá được thu thập, cập nhật, khai thác và sử dụng đảm bảo đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất. Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện kê khai, cung cấp dữ liệu chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực và hợp pháp của thông tin, dữ liệu do mình kê khai, cung cấp theo quy định của pháp luật.
(6) Bảo đảm quyền của tổ chức, cá nhân được truy cập kịp thời, đầy đủ và sử dụng thông tin, dữ liệu đúng mục đích trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hoá theo quy định của pháp luật.
(7) Dữ liệu về sản phẩm, hàng hoá đã được tổ chức, cá nhân khai báo, cập nhật, đồng bộ trên hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống truy xuất nguồn gốc, nền tảng số để thực hiện nghiệp vụ quản lý với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được tự động kết nối, đồng bộ vào Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá thông qua cơ chế tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định tại Nghị định này; tổ chức, cá nhân không phải thực hiện lại việc khai báo dữ liệu đã được xác thực hợp lệ
Dữ liệu về sản phẩm, hàng hoá đã được tổ chức, cá nhân khai báo, cập nhật, đồng bộ trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá được tự động kết nối, đồng bộ vào hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống truy xuất nguồn gốc, nền tảng số thực hiện nghiệp vụ quản lý với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức, cá nhân không phải thực hiện lại việc khai báo dữ liệu đã được xác thực hợp lệ.
Tại Nghị định cũng quy định về mã định danh sản phẩm, hàng hóa như sau:
Mã định danh sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi là mã UID) là đường dẫn (digital link) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn GS1 quốc tế được tạo lập tự động trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá, có khả năng định danh và truy xuất đến từng đơn vị hoặc lô, mẻ, loại sản phẩm, hàng hoá.
Mã UID được thể hiện thông qua vật mang dữ liệu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam và tương thích với tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng nhận diện, thu thập, chia sẻ và xác minh thông tin trong môi trường số và trong chuỗi cung ứng, không thay thế mã GTIN, mã số địa điểm toàn cầu (GLN), mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm đã được cấp, sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc.
Việc tạo lập, quản lý và sử dụng mã UID phải tuân thủ nguyên tắc, tiêu chuẩn, cấu trúc và yêu cầu kỹ thuật quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Mã UID phải được liên kết tự động với mã định danh phi tập trung (DID) của chủ thể theo quy định tại Điều 6 Nghị định này, khoá bí mật, khoá công khai và chữ ký điện tử chuyên dùng tại Điều 7 Nghị định này và với chứng chỉ số, bằng chứng số theo quy định tại Điều 8 Nghị định này, bảo đảm khả năng xác thực và truy vết độc lập.
Mỗi mã UID chỉ được gắn với một sản phẩm, hàng hóa hoặc một lô/mẻ sản phẩm, hàng hoá cụ thể và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Tên sản phẩm, hàng hóa trong dữ liệu chủ là tên do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự đặt và ghi nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; tổ chức, cá nhân được kê khai bổ sung nhãn hiệu và các tên gọi khác của cùng một sản phẩm, hàng hóa trong dữ liệu chủ để phục vụ tra cứu, đối chiếu. Dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa được chuẩn hóa theo mã, tên nhóm, ngành sản phẩm theo Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam và mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Việc ghi tên hàng hóa trên hóa đơn, chứng từ thực hiện theo quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ; mã UID được sử dụng để đối chiếu tên hàng hóa với dữ liệu chủ đã được xác thực trên Nền tảng quốc gia.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027./.
Tác giả: Thuý Vi







