Quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 23 tháng 8 năm 2026. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.

Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước như sau:

(1) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Chỉ đạo xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chiến lược, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bồi thường nhà nước;

- Chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện quản lý công tác bồi thường nhà nước;

- Chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước;

- Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước;

- Định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội về công tác bồi thường nhà nước.

(2) Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.

(3) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bồi thường nhà nước tại địa phương;

- Chỉ đạo, đôn đốc, theo dõi, hướng dẫn công tác bồi thường nhà nước tại địa phương;

- Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan ở địa phương trong công tác bồi thường nhà nước;

- Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước tại địa phương;

- Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác bồi thường nhà nước;

- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật;

- Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 48 của Luật này mà không ra quyết định hủy;

- Thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật này;

- Hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường.

(4) Chính phủ quy định nêu trên.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định về kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước như sau:

(1) Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho công tác bồi thường nhà nước, bao gồm:

- Kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước;

- Kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại.

(2) Trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương.

(3) Trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa phương

Việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước được quy định như sau:

Hằng năm, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Khi phát sinh kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sử dụng kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được giao để chi trả theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

Kết thúc năm ngân sách, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có trách nhiệm quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật này theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Chính phủ quy định chi tiết quy định nêu trên./.

Tác giả: Hồng Vân