Quy định việc dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng

Ngày 04 tháng 11 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 81/2026/TT-BXD quy định việc dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng.

Thông tư này quy định danh mục vật liệu xây dựng phải dán nhãn năng lượng và lộ trình thực hiện; nội dung, quy cách nhãn năng lượng; điều kiện đối với phòng thử nghiệm; hướng dẫn việc công bố, dán nhãn năng lượng; kiểm tra, báo cáo, đình chỉ, thu hồi dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng.

Đối tượng áp dụng như sau:

(1) Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu, tổ chức, cá nhân phân phối, kinh doanh, kể cả thương mại điện tử vật liệu xây dựng thuộc danh mục phải dán nhãn năng lượng quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

(2) Phòng thử nghiệm thực hiện thử nghiệm đặc tính nhiệt của vật liệu xây dựng để dán nhãn năng lượng.

(3) Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc công bố, dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng.

(4) Thông tư này không áp dụng đối với vật liệu xây dựng tạm nhập, tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu; vật liệu xây dựng sản xuất, gia công để xuất khẩu và không tiêu thụ tại Việt Nam; hàng nhập khẩu phi thương mại, quà biếu, quà tặng, hàng mẫu, hàng trưng bày, hàng phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm không đưa ra thị trường; vật liệu xây dựng phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 4 Thông tư quy định danh mục vật liệu xây dựng phải dán nhãn năng lượng và lộ trình thực hiện như sau:

(1) Vật liệu xây dựng đưa vào danh mục phải dán nhãn năng lượng đáp ứng các tiêu chí sau đây:

- Sử dụng cho lớp vỏ bao che công trình, có đặc tính nhiệt liên quan đến hiệu quả sử dụng năng lượng của công trình hoặc bộ phận công trình;

- Có tiêu chuẩn phương pháp thử để xác định thông số đặc tính nhiệt;

- Có khả năng thử nghiệm và kiểm chứng thông số đặc tính nhiệt tại các phòng thử nghiệm.

(2) Danh mục vật liệu xây dựng phải dán nhãn năng lượng được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này; lộ trình thực hiện như sau:

- Nhóm 1 dán nhãn năng lượng từ ngày 01 tháng 01 năm 2029;

- Nhóm 2 dán nhãn năng lượng từ ngày 01 tháng 01 năm 2031.

(3) Trước thời điểm quy định phải thực hiện dán nhãn năng lượng, khuyến khích cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu vật liệu xây dựng tự nguyện thực hiện công bố, dán nhãn năng lượng đối với sản phẩm thuộc Phụ lục I. Khi lựa chọn dán nhãn tự nguyện thì việc thử nghiệm, công bố và thể hiện nhãn thực hiện theo quy định tại Thông tư này.

Nhãn năng lượng bao gồm các nội dung sau:

(1) Tên hoặc tên viết tắt của cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu;

(2) Tên sản phẩm và mã nhận diện kiểu, loại sản phẩm;

(3) Đặc tính nhiệt và giá trị công bố tương ứng theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này;

(4) Tiêu chuẩn dùng để xác định đặc tính nhiệt;

(5) Mã tra cứu điện tử (nếu có).

Mẫu nhãn năng lượng được quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này. Kích thước nhãn phù hợp với sản phẩm, bao bì bảo đảm thông tin phải rõ ràng, dễ nhận biết.

Nhãn năng lượng có thể được tích hợp thành một nội dung của nhãn hàng hóa hoặc sử dụng nhãn năng lượng riêng.

Hồ sơ công bố dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng gồm các thành phần quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 30/2026/NĐ-CP, gồm:

(1) Thông số kỹ thuật của vật liệu xây dựng, trong đó xác định rõ kiểu, loại sản phẩm và đặc tính nhiệt công bố;

(2) Kết quả thử nghiệm đặc tính nhiệt do các phòng thử nghiệm đã được Bộ Xây dựng công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ;

(3) Giấy công bố dán nhãn năng lượng theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này;

(4) Mẫu nhãn năng lượng dự kiến.

Tại Điều 7 Thông tư quy định phương thức và trình tự công bố dán nhãn năng lượng như sau:

Trước khi đưa vật liệu xây dựng thuộc danh mục phải dán nhãn năng lượng ra thị trường theo lộ trình quy định tại Điều 4 Thông tư này, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu gửi hồ sơ công bố dán nhãn năng lượng đến Bộ Xây dựng bằng phương thức điện tử để công bố trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, đồng thời công bố trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

Trường hợp hệ thống thông tin chưa sẵn sàng tiếp nhận, Bộ Xây dựng công bố phương thức thay thế trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.

Bộ Xây dựng tiếp nhận hồ sơ, công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ các thông tin sau: tên cơ sở sản xuất hoặc doanh nghiệp nhập khẩu; tên và mã nhận diện kiểu, loại sản phẩm; đặc tính nhiệt công bố; tiêu chuẩn áp dụng; ngày công bố; mẫu nhãn năng lượng.

Việc tiếp nhận và công khai thông tin theo Điều này không phải là việc xác nhận, chứng nhận hoặc chấp thuận nội dung công bố. Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của hồ sơ và sự phù hợp của sản phẩm với nội dung đã công bố.

Về thực hiện dán nhãn năng lượng

Sau khi thực hiện công bố theo Điều 7 Thông tư này, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu tự thực hiện việc dán nhãn năng lượng bằng hình thức dán hoặc in trực tiếp trên sản phẩm hoặc trên bao bì sản phẩm.

Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối, kinh doanh, bao gồm kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, có trách nhiệm duy trì việc thể hiện hoặc cung cấp thông tin nhãn năng lượng của sản phẩm theo nội dung đã được cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu công bố.

Thay đổi thông tin đã công bố

(1) Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu phải thử nghiệm đặc tính nhiệt và thực hiện công bố lại việc dán nhãn năng lượng khi thay đổi một trong các yếu tố: cấu tạo sản phẩm, nguyên liệu chính, công nghệ sản xuất, nơi sản xuất.

(2) Trường hợp chỉ thay đổi tên, địa chỉ, thông tin liên hệ của cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu vật liệu xây dựng hoặc thay đổi tên thương mại, mã nhận diện mà không làm thay đổi kiểu loại sản phẩm và đặc tính nhiệt đã công bố, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu có trách nhiệm công khai thông tin thay đổi trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, đồng thời gửi thông tin thay đổi về Bộ Xây dựng để cập nhật; không phải thử nghiệm lại.

(3) Sản phẩm được sản xuất hoặc hoàn thành thủ tục nhập khẩu trước thời điểm thay đổi quy định tại mục (1) được tiếp tục lưu thông với nhãn năng lượng đã công bố nếu có tài liệu xác định được thời điểm sản xuất hoặc nhập khẩu và sản phẩm phù hợp với nội dung công bố tại thời điểm đó.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027./.

Tác giả: Hồng Vân