Ngày 09/10/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 151/2026/TT-BTC quy định chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý và hướng dẫn việc kê khai, báo cáo về tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý.
Theo đó tại Điều 4 quy định tiêu chuẩn tài sản kết cấu hạ tầng xác định là tài sản cố định như sau:
1. Xác định tài sản kết cấu hạ tầng:
a) Tài sản có kết cấu độc lập được xác định là một tài sản.
b) Một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được thì hệ thống đó được xác định là một tài sản.
c) Một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ, liên kết với nhau, có thể hoạt động độc lập với nhau và không làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống khi tách rời từng bộ phận tài sản riêng lẻ, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao khác nhau hoặc có chức năng hoạt động độc lập thì mỗi bộ phận tài sản riêng lẻ đó được xác định là một tài sản.
d) Trường hợp một hệ thống được giao cho nhiều đối tượng quản lý thì phần tài sản được giao cho từng đối tượng quản lý là một tài sản.
2. Tài sản quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là tài sản cố định khi thỏa mãn đồng thời 02 tiêu chuẩn sau đây:
a) Có thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao từ 01 (một) năm trở lên.
b) Có nguyên giá từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.
Nguyên tắc quản lý và trách nhiệm của đối tượng quản lý tài sản kết cấu hạ tầng
1. Tài sản kết cấu hạ tầng quy định tại Điều 3, Điều 4 Thông tư này phải được lập hồ sơ tài sản để quản lý chặt chẽ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan. Các chỉ tiêu về nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản kết cấu hạ tầng là số nguyên; trường hợp kết quả xác định các chỉ tiêu này là số thập phân thì được làm tròn số theo quy định về sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn tại pháp luật về kế toán.
2. Mỗi một tài sản kết cấu hạ tầng quy định tại Điều 4 Thông tư này là một đối tượng ghi sổ kế toán. Kế toán tài sản kết cấu hạ tầng phải phản ánh, ghi chép đầy đủ thông tin về nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản theo quy định.
3. Đối với tài sản kết cấu hạ tầng không còn nhu cầu sử dụng nhưng chưa tính đủ hao mòn hoặc chưa khấu hao hết giá trị theo quy định thì đối tượng quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi, bảo quản tài sản theo quy định hiện hành và tính hao mòn theo quy định tại Thông tư này cho đến khi được xử lý theo quy định; không phải trích khấu hao.
4. Đối với tài sản kết cấu hạ tầng đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn tiếp tục sử dụng được thì đối tượng quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, sử dụng, theo dõi, bảo quản tài sản theo quy định hiện hành và không phải tính hao mòn, trích khấu hao. Trường hợp tài sản kết cấu hạ tầng đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng sau đó thuộc trường hợp thay đổi nguyên giá theo quy định tại Điều 7 Thông tư này thì phải tính hao mòn, trích khấu hao theo quy định cho thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại (nếu có) sau khi thay đổi nguyên giá.
5. Trường hợp chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản thì đối tượng quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi và tính hao mòn tài sản theo quy định tại Thông tư này trong thời gian chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản; không phải trích khấu hao trong thời gian chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác tài sản.
6. Trường hợp chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hoặc áp dụng phương thức khai thác khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành về hạ tầng mà phải chuyển giao quyền khai thác tài sản cho đối tượng khác thì trong thời gian chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác hoặc chuyển giao quyền khai thác tài sản, đối tượng quản lý tài sản (bên chuyển nhượng hoặc bên chuyển giao):
a) Có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng hoặc nhận chuyển giao theo quy định của pháp luật và hợp đồng chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác hoặc chuyển giao quyền khai thác tài sản.
b) Không thực hiện tính hao mòn, trích khấu hao tài sản theo quy định tại Thông tư này nhưng phải tiếp tục theo dõi nguyên giá tài sản đã hạch toán tại thời điểm chuyển nhượng và theo dõi trên Thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán.
c) Khi hết thời hạn chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác hoặc chuyển giao quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng (bao gồm cả trường hợp chấm dứt hợp đồng trước hạn), đối tượng quản lý tài sản tiếp nhận lại tài sản theo hợp đồng chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác hoặc chuyển giao quyền khai thác tài sản và quy định của pháp luật để thực hiện quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao theo quy định tại Nghị định số 178/2026/NĐ-CP và Thông tư này; việc xác định lại nguyên giá, giá trị còn lại của tài sản được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 6, khoản 6 Điều 12 Thông tư này.
7. Trường hợp sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng hiện có để tham gia dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì trong thời gian bàn giao tài sản cho nhà đầu tư thực hiện dự án, đối tượng quản lý tài sản:
a) Có trách nhiệm theo dõi, báo cáo phần tài sản được sử dụng để tham gia dự án trong quá trình giao tài sản cho nhà đầu tư thực hiện dự án.
b) Không thực hiện tính hao mòn, trích khấu hao tài sản theo quy định tại Thông tư này nhưng phải tiếp tục theo dõi nguyên giá tài sản đã hạch toán tại thời điểm bàn giao tài sản cho nhà đầu tư thực hiện dự án và theo dõi trên Thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán.
c) Khi nhà đầu tư chuyển giao tài sản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đối tượng quản lý tài sản tiếp nhận lại tài sản theo quy định để thực hiện quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản theo quy định tại Nghị định số 178/2026/NĐ-CP và Thông tư này; việc xác định lại nguyên giá, giá trị còn lại của tài sản được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 6, khoản 4 Điều 12 Thông tư này.
8. Trường hợp sử dụng một phần tài sản để khai thác hỗn hợp hoặc sử dụng vào mục đích quy định tại điểm d khoản 4 Điều 16 Nghị định số 178/2026/NĐ-CP thì đối tượng quản lý tài sản (Bên có tài sản kết cấu hạ tầng) tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi và tính hao mòn, trích khấu hao đối với phần tài sản kết cấu hạ tầng khai thác hỗn hợp hoặc sử dụng vào mục đích quy định tại điểm d khoản 4 Điều 16 Nghị định số 178/2026/NĐ-CP theo quy định tại Thông tư này.
Trường hợp xử lý một phần của tài sản kết cấu hạ tầng thì giá trị (nguyên giá, giá trị còn lại) của phần tài sản xử lý được xác định trên cơ sở phân bố giá trị của toàn bộ tài sản cho phần tài sản theo các tiêu chí cho phù hợp (như: số lượng khối lượng/chiều dài/diện tích/tiêu chí khác (nếu có)) để trình, quyết định và tổ chức xử lý.
9. Trường hợp đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản thuê doanh nghiệp thẩm định giá theo quy định tại Thông tư này để xác định giá trị của tài sản, đánh giá lại giá trị của tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản thì việc sử dụng chứng thư thẩm định giá, báo cáo thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá và pháp luật khác có liên quan.
10. Trường hợp đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản thành lập Hội đồng để xác định giá trị của tài sản, đánh giá lại giá trị của tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản theo quy định tại Thông tư này thì thực hiện như sau:
a) Đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thành lập, kết quả xác định, đánh giá lại của Hội đồng.
b) Thành phần Hội đồng được thành lập gồm: Đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản có tối thiểu 03 thành viên trong Hội đồng (trong đó: Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu của đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản hoặc người được ủy quyền; đại diện các bộ phận chuyên môn có liên quan của đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản là thành viên); các thành viên khác là đại diện các cơ quan, đơn vị có liên quan (nếu cần). Trường hợp cần thiết thì Hội đồng thuê tổ chức có chức năng tư vấn về giá để tư vấn xác định giá.
c) Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng như sau:
Tùy theo tính chất, đặc điểm, thực trạng của tài sản cần xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại, Hội đồng thực hiện khảo sát giá, thu thập thông tin liên quan đến tài sản cần xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại, bằng ít nhất một trong các hình thức sau: Khảo sát giá thị trường theo giá bán buôn, giá bán lẻ của tài sản cùng loại hoặc tài sản tương tự, nghiên cứu giá tài sản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định đã được áp dụng tại địa phương; tham khảo giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp, giá trong tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản, các nguồn thông tin khác về giá trị của tài sản cần xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại.
Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể. Phiên họp để xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại tài sản chỉ được tiến hành khi có mặt từ 2/3 số lượng thành viên của Hội đồng trở lên tham dự; trường hợp Hội đồng chỉ có 03 thành viên thì phiên họp phải có mặt đủ 03 thành viên. Chủ tịch Hội đồng điều hành phiên họp để xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại tài sản. Trước khi tiến hành phiên họp, những thành viên vắng mặt phải có văn bản gửi tới Chủ tịch Hội đồng nêu rõ lý do vắng mặt; có ý kiến về các vấn đề liên quan đến giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại tài sản.
Hội đồng kết luận về giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản theo ý kiến đa số bao gồm ý kiến biểu quyết, thông qua của thành viên Hội đồng có mặt tại phiên họp và ý kiến bằng văn bản của thành viên vắng mặt. Trong trường hợp có ý kiến ngang nhau thì bên có biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định. Thành viên của Hội đồng có quyền bảo lưu ý kiến của mình nếu không đồng ý với kết luận về giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản do Hội đồng quyết định; ý kiến bảo lưu đó được ghi vào Biên bản xác định giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản.
Hội đồng phải lập Biên bản về việc xác định giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản, trong đó phản ánh đầy đủ và trung thực toàn bộ quá trình xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản.
Nội dung chính của Biên bản xác định giá trị của tài sản, đánh giá lại giá trị của tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản gồm: Họ, tên Chủ tịch Hội đồng và các thành viên của Hội đồng; họ, tên những người tham dự phiên họp xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản (nếu có); thời gian, địa điểm tiến hành việc xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản; kết quả khảo sát giá trị của tài sản; ý kiến của các thành viên của Hội đồng; ý kiến của những người tham dự phiên họp (nếu có); kết quả biểu quyết của Hội đồng; thời gian, địa điểm hoàn thành việc xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản; chữ ký của Chủ tịch Hội đồng và các thành viên của Hội đồng tham dự phiên họp.
Hội đồng xác định giá trị của tài sản, đánh giá lại giá trị của tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản được thành lập bằng Quyết định thành lập Hội đồng và chấm dứt hoạt động sau khi hoàn thành nhiệm vụ quy định tại Quyết định thành lập Hội đồng; các trường hợp phát sinh liên quan đến xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại của tài sản sau khi Hội đồng chấm dứt hoạt động sẽ do đối tượng quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản chủ trì xử lý.
11. Đối tượng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 2 Thông tư này có trách nhiệm:
a) Thực hiện kế toán đối với toàn bộ tài sản kết cấu hạ tầng được giao quản lý theo quy định của pháp luật về kế toán; thực hiện báo cáo tình hình tăng, giảm, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật; bảo đảm số liệu tài sản kết cấu hạ tầng trên số kế toán của đối tượng quản lý tài sản thống nhất với số liệu báo cáo trong Cơ sở dữ liệu về tài sản kết cấu hạ tầng.
b) Thực hiện kiểm kê tài sản định kỳ hằng năm; thực hiện tổng kiểm kê tài sản theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; thực hiện điều chỉnh số liệu kế toán nếu phát sinh chênh lệch khi thực hiện kiểm kê.
c) Thực hiện báo cáo kê khai, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng theo quy định tại Điều 33, Điều 46 Nghị định số 178/2026/NĐ-CP và quy định tại Thông tư này.
12. Trường hợp đối tượng quản lý tài sản được giao nhiệm vụ tiếp nhận tài sản kết cấu hạ tầng được xử lý theo hình thức chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý hoặc thu hồi theo quy định tại Nghị định số 178/2026/NĐ-CP thì thực hiện xác định nguyên giá, tính hao mòn, giá trị còn lại đối với tài sản nhận chuyển giao, thu hồi theo quy định tại Thông tư này từ khi tiếp nhận tài sản (theo Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản) đến khi hoàn thành việc xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24 tháng 11 năm 2026./.
Tác giả: Minh Hải








