Ngày 30/9/2026, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 73/2026/TT-BXD quy định về phân cấp và quy trình kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Thông tư số 73/2026/TT-BXD quy định về phân cấp và quy trình kiểm tra chuyên ngành trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.
Theo đó, tại Điều 3 Thông tư số 73/2026/TT-BXD quy định việc phân cấp thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành như sau:
(1) Cục trưởng các Cục thuộc Bộ thực hiện kiểm tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý tại các quyết định của Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Cục, trừ các trường hợp quy định tại (3).
(2) Ngoài các nội dung đã được phân cấp cho Cục trưởng tại (1)này, đối với các ngành, lĩnh vực còn lại thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, Vụ trưởng các Vụ được giao chức năng tham mưu quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực đó có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Bộ trưởng tiến hành kiểm tra chuyên ngành theo quy định.
(3) Bộ trưởng quyết định việc kiểm tra trong các trường hợp sau:
+ Nội dung kiểm tra thuộc phạm vi quản lý của từ hai Cục trở lên;
+ Đối tượng kiểm tra là Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
+ Cuộc kiểm tra có nội dung phức tạp, nhạy cảm, phạm vi rộng hoặc liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương.
Bên cạnh đó, tại Điều 6 Thông tư số 73/2026/TT-BXD quy định về hình thức kiểm tra và tiến hành kiểm tra như sau:
- Kiểm tra chuyên ngành được thực hiện trực tiếp hoặc trực tuyến, từ xa theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP. Người ra quyết định kiểm tra căn cứ tính chất, nội dung, yêu cầu của cuộc kiểm tra và điều kiện về dữ liệu, công nghệ, phương tiện kỹ thuật để quyết định hình thức kiểm tra phù hợp.
- Việc công bố quyết định kiểm tra, thu thập, kiểm tra, đối chiếu thông tin, hồ sơ, tài liệu, yêu cầu giải trình, xác minh và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn kiểm tra thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP.
- Đoàn kiểm tra chỉ được yêu cầu cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan trực tiếp đến đối tượng, nội dung, phạm vi và thời kỳ kiểm tra; đánh giá việc chấp hành pháp luật trên cơ sở quy định của pháp luật chuyên ngành, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được áp dụng, hồ sơ quản lý và dữ liệu chuyên ngành.
- Trường hợp cần thiết phải lấy mẫu, đo đạc, thử nghiệm, kiểm định hoặc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật làm căn cứ để xem xét, đánh giá kết quả kiểm tra thì việc lấy mẫu, đo đạc, thử nghiệm, kiểm định hoặc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
- Trường hợp kiểm tra trực tuyến, từ xa mà không thu thập được đầy đủ dữ liệu, thông tin phục vụ công tác kiểm tra, Trưởng đoàn báo cáo người ra quyết định kiểm tra xem xét, quyết định chuyển sang kiểm tra trực tiếp. Việc tiếp nhận, xác thực, ký, gửi, quản lý và lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, lưu trữ, an toàn thông tin và bảo vệ bí mật nhà nước.
- Khi kiểm tra thực tế tại hiện trường hoặc cơ sở đang hoạt động, Đoàn kiểm tra phải tuân thủ quy định về an toàn, an ninh, phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường; phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác để hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
Cuộc kiểm tra chuyên ngành đã có quyết định kiểm tra trước ngày Thông tư số 73/2026/TT-BXD có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật áp dụng tại thời điểm ban hành quyết định kiểm tra.
Kế hoạch kiểm tra chuyên đề đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành trước ngày Thông tư số 73/2026/TT-BXD có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt; việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sau ngày Thông tư số 73/2026/TT-BXD có hiệu lực được thực hiện theo Thông tư số 73/2026/TT-BXD./.
Tác giả: Trần Kiều








