Ngày 23/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa, mã số, mã vạch, nhãn hàng hóa, hộ chiếu số, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, đánh giá sự phù hợp và Giải thưởng chất lượng quốc gia tại Việt Nam. Tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa phải bảo đảm hàng hóa xuất khẩu phù hợp với quy định của nước nhập khẩu, hợp đồng, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp với nước, vùng lãnh thổ có liên quan và không có trách nhiệm phải tuân thủ các quy định áp dụng đối với hàng hóa đưa vào lưu thông trên thị trường nội địa Việt Nam tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP này, trừ các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 50 và khoản 2 Điều 87 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP này.
Điều 4. Nguyên tắc và phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa
1. Việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc sau:
a) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn;
b) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ;
c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
d) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro;
đ) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học.
2. Phân loại rủi ro:
Các sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo ba mức độ rủi ro:
a) Nhóm rủi ro cao: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại lớn và khả năng xảy ra rủi ro cao, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;
b) Nhóm rủi ro trung bình: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại hoặc khả năng xảy ra rủi ro ở mức trung bình, có thể gây ảnh hưởng đáng kể nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;
c) Nhóm rủi ro thấp: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra rủi ro thấp, hầu như không gây ảnh hưởng đáng kể trong điều kiện kiểm soát hoặc sử dụng thông thường.
3. Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng
Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng của sản phẩm, hàng hóa quy định tại Phụ lục VI của Nghị định này. Trường hợp cần thiết phải có quy định cho phù hợp với đặc thù của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, trên cơ sở phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng quy định tại Nghị định này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định yêu cầu đặc thù riêng trong phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng cho sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý.
Điều 5. Trình tự và hồ sơ xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa
1. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiếp tục thực hiện theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được ban hành, quy định pháp luật hiện hành có liên quan và Danh mục sản phẩm, hàng hóa đang áp dụng.
2. Trên cơ sở các nguyên tắc, phương pháp và trình tự xác định mức độ rủi ro quy định tại Nghị định này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm rà soát, đánh giá mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý; ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao kèm theo mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, gắn với yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng, bảo đảm có hiệu lực thực hiện kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng với các sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục quy định tại khoản này theo lộ trình phù hợp, bảo đảm sự thống nhất và thuận lợi cho các đối tượng trong quá trình sử dụng.
3. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khi thực hiện xác định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải bảo đảm:
a) Việc phối hợp, giám sát, thống nhất quản lý rủi ro được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;
b) Với mỗi sản phẩm, hàng hóa cần thực hiện đánh giá mức độ rủi ro với từng mối nguy và lựa chọn mối nguy có điểm mức độ rủi ro cao nhất để làm căn cứ đánh giá mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa đó.
4. Hồ sơ ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao bao gồm:
a) Thuyết minh lý do đưa sản phẩm, hàng hóa vào danh mục quản lý, nêu rõ căn cứ khoa học, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế;
b) Báo cáo đánh giá rủi ro gồm các nội dung: mô tả sản phẩm, hàng hóa và phạm vi sử dụng; ý kiến tham vấn của các tổ chức, cá nhân liên quan, hiệp hội ngành hàng, tổ chức khoa học và công nghệ; phân tích mối nguy, tác động, hệ số tác động và xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa; thông tin cảnh báo từ cơ quan có thẩm quyền và tổ chức quốc tế; phân loại mức độ rủi ro và kiến nghị biện pháp quản lý.
5. Việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng cho sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao được thực hiện theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp giám sát việc xác định và quản lý rủi ro, bảo đảm thống nhất, không chồng chéo giữa các bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
6. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu quản lý bao gồm cả việc phát sinh sản phẩm, công nghệ mới, cảnh báo trong nước và quốc tế về rủi ro sản phẩm, hàng hóa để rà soát, cập nhật, bổ sung Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với quy định pháp luật.
Điều 6. Cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ quản lý ngành, lĩnh vực
1. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối xây dựng, quản lý và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
2. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm:
a) Cập nhật và chia sẻ thông tin, dữ liệu về sản phẩm, hàng hóa thuộc mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao (bao gồm kết quả kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và cảnh báo vi phạm) lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện cập nhật và chia sẻ dữ liệu định kỳ hàng quý, trước ngày 25 của tháng cuối quý nếu có thay đổi; đồng thời thực hiện cập nhật đột xuất khi phát sinh cảnh báo khẩn cấp;
b) Khai thác, sử dụng dữ liệu thống nhất trong xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao, giám sát, kiểm tra thị trường;
c) Đối với sản phẩm, hàng hóa có chứa bí mật nhà nước thì không phải thực hiện việc cập nhật thông tin, báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau lưu thông (hậu kiểm) trên cơ sở dữ liệu.
Tác giả: Tấn Hòa

