Ngày 30 tháng 10 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 49/2026/QĐ-TTg quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên.
Quyết định này quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên và hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư.
Quyết định này không áp dụng đối với các dự án đầu tư thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Đối tượng áp dụng gồm:
(1) Cơ quan chủ trì tổ chức việc xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 16 Điều 28 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
(2) Nhà đầu tư; tổ chức giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được chỉ định; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Dự án đầu tư có sử dụng công nghệ là dự án đầu tư có sử dụng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để sản xuất ra sản phẩm.
Tại Điều 4. Quyết định quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định công nghệ của dự án đầu tư như sau:
(1) Hồ sơ đề nghị xác định công nghệ của dự án đầu tư gồm:
- Văn bản đề nghị xác định công nghệ của dự án đầu tư theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục của Quyết định này;
- Thuyết minh hiện trạng công nghệ sử dụng trong dự án đầu tư theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục của Quyết định này;
- Chứng thư giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ sử dụng trong dự án đầu tư còn hiệu lực, thể hiện các nội dung theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục của Quyết định này.
(2) Trình tự, thủ tục xác định công nghệ của dự án đầu tư:
- Nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị xác định công nghệ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan chủ trì tổ chức việc xác định công nghệ theo phân cấp thẩm quyền quy định tại điểm a và điểm b khoản 16 Điều 28 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là cơ quan chủ trì). Trường hợp hồ sơ đã được tiếp nhận trực tuyến thì không yêu cầu nhà đầu tư nộp lại bản giấy đối với thành phần hồ sơ đã được xác thực, ký số hoặc có thể khai thác từ hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp các thành phần hồ sơ không được xác thực, ký số hoặc không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan, người có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính yêu cầu cá nhân, tổ chức bổ sung thành phần hồ sơ để giải quyết thủ tục hành chính.
- Đối với hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ theo quy định:
Trường hợp nhà đầu tư nộp hồ sơ trực tiếp, người có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hướng dẫn nhà đầu tư hoàn thiện hoặc từ chối tiếp nhận hồ sơ theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông;
Trường hợp nhà đầu tư nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan chủ trì có văn bản thông báo đến nhà đầu tư để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Văn bản thông báo nêu rõ tên hồ sơ và ngày tiếp nhận; các thành phần hồ sơ, nội dung cần sửa đổi, bổ sung và lý do; thời hạn nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ; thông tin của bộ phận, người trực tiếp giải quyết hồ sơ.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan chủ trì có văn bản gửi cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và cơ quan quản lý chuyên ngành theo phân cấp tương ứng với thẩm quyền của cơ quan chủ trì để lấy ý kiến phối hợp. Trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì lấy ý kiến tổ chức, chuyên gia độc lập để tham vấn về chuyên môn, xác định công nghệ của dự án đầu tư.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan được lấy ý kiến phối hợp, tổ chức, chuyên gia độc lập có ý kiến bằng văn bản gửi cơ quan chủ trì.
- Đối với dự án đầu tư có quy mô lớn, công nghệ phức tạp, trong trường hợp cần thiết, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan chủ trì căn cứ hồ sơ cụ thể và năng lực chuyên môn của mình quyết định thành lập Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ theo quy định tại mục (3), tổ chức khảo sát thực tế tại dự án đầu tư và tổ chức họp Hội đồng để cho ý kiến xác định công nghệ của dự án đầu tư.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của cơ quan phối hợp, Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ, tổ chức, chuyên gia độc lập, cơ quan chủ trì có ý kiến bằng văn bản xác định công nghệ của dự án đầu tư theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục của Quyết định này.
- Trường hợp máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ của dự án đầu tư đã có kết quả kiểm định, giám định hợp pháp còn hiệu lực về an toàn, hiệu suất năng lượng, bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức giám định được chỉ định bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp, cơ quan chủ trì xem xét sử dụng, tham chiếu các kết quả này khi xác định công nghệ của dự án đầu tư, không yêu cầu đánh giá lại đối với nội dung đã có kết quả, trừ trường hợp có căn cứ cho thấy kết quả không còn chính xác, phù hợp.
(3) Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký Hội đồng; đại diện cơ quan chủ trì, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thực hiện dự án, trong trường hợp cơ quan chủ trì là Bộ Khoa học và Công nghệ theo phân cấp thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 16 Điều 28 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP; chuyên gia có chuyên môn phù hợp với lĩnh vực công nghệ cần xác định, đánh giá. Số lượng chuyên gia không nhỏ hơn 1/3 số lượng thành viên Hội đồng.
Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, thảo luận tập thể hoặc lấy ý kiến bằng văn bản và kết luận theo đa số; kết luận của Hội đồng được lập thành biên bản, thể hiện rõ ý kiến của từng thành viên trong trường hợp có ý kiến khác, làm căn cứ để cơ quan chủ trì xem xét, quyết định xác định công nghệ của dự án đầu tư; Hội đồng chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan thành lập Hội đồng về nội dung tư vấn, kiến nghị.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng phù hợp với nguyên tắc quy định tại mụ (3) này.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục chỉ định tổ chức giám định được quy định như sau:
1. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan có thẩm quyền chỉ định tổ chức giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư.
2. Trình tự, thủ tục chỉ định lần đầu, chỉ định lại đối với trường hợp quyết định chỉ định hết hiệu lực:
- Tổ chức giám định nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký chỉ định, chỉ định lại hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư, trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Bộ Khoa học và Công nghệ để đăng ký chỉ định.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký, nếu hồ sơ không đầy đủ, hợp lệ theo quy định, Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức giám định sửa đổi, bổ sung hồ sơ; văn bản thông báo nêu rõ các thành phần hồ sơ, nội dung cần sửa đổi, bổ sung và lý do.
- Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành đánh giá năng lực thực tế của tổ chức giám định thông qua việc cử chuyên gia hoặc thành lập đoàn đánh giá. Nội dung đánh giá thực tế theo quy định tại mục (4). Chi phí phục vụ hoạt động đánh giá của chuyên gia hoặc đoàn đánh giá do tổ chức giám định đăng ký chỉ định bảo đảm.
Việc đánh giá năng lực thực tế tại tổ chức giám định phải được thông báo bằng văn bản cho tổ chức giám định đã nộp hồ sơ đăng ký biết trước 05 ngày làm việc. Kết thúc việc đánh giá, chuyên gia hoặc đoàn đánh giá phải lập biên bản đánh giá thực tế với các nội dung quy định tại mục (4). Biên bản đánh giá thực tế thể hiện đầy đủ: thành phần tham gia; thời gian, địa điểm đánh giá; kết quả đánh giá đối với từng nội dung quy định tại mục (4); các nội dung tổ chức giám định phải khắc phục và thời hạn khắc phục (nếu có); ý kiến của tổ chức giám định được đánh giá; chữ ký của chuyên gia hoặc các thành viên đoàn đánh giá và của đại diện tổ chức giám định.
Trường hợp tổ chức giám định phải khắc phục các nội dung nêu trong biên bản đánh giá thực tế, trong thời hạn 22 ngày làm việc, tổ chức giám định phải gửi báo cáo kết quả hành động khắc phục về Bộ Khoa học và Công nghệ. Báo cáo kết quả hành động khắc phục nêu rõ từng nội dung phải khắc phục theo biên bản đánh giá thực tế, biện pháp đã thực hiện, kết quả khắc phục và tài liệu chứng minh kèm theo. Trường hợp các nội dung khắc phục cần phải kéo dài thêm thời hạn để khắc phục thì tổ chức giám định báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ bằng văn bản và nêu rõ thời hạn chính thức hoàn thành việc khắc phục các nội dung trên.
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả hành động khắc phục theo biên bản đánh giá thực tế, nếu tổ chức giám định đã thực hiện khắc phục đầy đủ nội dung và đáp ứng yêu cầu theo quy định, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định chỉ định tổ chức giám định hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư theo Mẫu số 08 quy định tại Phụ lục của Quyết định này. Thời hạn có hiệu lực của quyết định chỉ định không quá 05 năm kể từ ngày ký ban hành.
Trong trường hợp từ chối việc chỉ định, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xử lý hồ sơ, Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo bằng văn bản cho tổ chức giám định, trong đó nêu rõ căn cứ pháp lý, lý do từ chối và nội dung tổ chức giám định cần hoàn thiện trong trường hợp tiếp tục đăng ký chỉ định.
3. Trình tự, thủ tục chỉ định bổ sung phạm vi hoạt động giám định:
Tổ chức giám định nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký bổ sung phạm vi hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư, trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Bộ Khoa học và Công nghệ để đăng ký chỉ định bổ sung phạm vi giám định.
Trình tự, thủ tục đăng ký xem xét, chỉ định bổ sung phạm vi hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư thực hiện theo quy định tại mục (2).
4. Nội dung đánh giá năng lực thực tế:
- Sự tuân thủ quy định pháp luật của tổ chức giám định trong lĩnh vực đăng ký chỉ định;
- Tính xác thực của hồ sơ đăng ký;
- Việc duy trì hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng với yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17020 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17020;
- Trình độ, năng lực đội ngũ giám định viên.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2026./.
Tác giả: Thúy Vi





.png)


