Quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non

Ngày 17 tháng 9 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 360/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Nghị định này quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm:

- Điều kiện, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và trường chuyên biệt (sau đây gọi chung là nhà trường).

- Điều kiện, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ sở giáo dục thường xuyên.

- Điều kiện, thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục khác quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 65 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15 (sau đây gọi chung là Luật Giáo dục), trừ trường hợp quy định tại mục 2 trên.

Đối tượng áp dụng gồm:

(1) Cơ sở giáo dục mầm non, bao gồm: nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non loại hình công lập, dân lập và tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động (sau đây gọi chung là trường mầm non); trường mầm non do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên chính phủ đề nghị; nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập loại hình công lập, dân lập và tư thục do nhà đầu tư trong nước đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động (sau đây gọi chung là nhóm lớp mầm non độc lập).

(2) Cơ sở giáo dục phổ thông và trường chuyên biệt, bao gồm:

- Cơ sở giáo dục phổ thông, bao gồm: trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình công lập và tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động; trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên chính phủ đề nghị (sau đây gọi chung là trường phổ thông);

- Trường chuyên biệt, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học do Nhà nước đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động; trường trung học phổ thông chuyên, trường năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao và trường năng khiếu khác, trường dành cho người khuyết tật, lớp dành cho người khuyết tật loại hình công lập và tư thục do nhà đầu tư trong nước đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động.

(3) Cơ sở giáo dục thường xuyên, bao gồm: trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng loại hình công lập và tư thục do nhà đầu tư trong nước đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động; trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên công lập và tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động (sau đây gọi chung là trung tâm giáo dục thuộc cơ sở giáo dục thường xuyên).

(4) Cơ sở giáo dục khác, bao gồm: trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (sau đây gọi chung là trung tâm giáo dục thuộc cơ sở giáo dục khác); lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi học ở trường, lớp dành cho người khuyết tật (sau đây gọi chung là lớp độc lập).

(5) Tổ chức và cá nhân khác có liên quan.

Tại Điều 3 Nghị định quy định về nguyên tắc thực hiện như sau:

- Bảo đảm phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương và cơ sở giáo dục trong giải quyết thủ tục hành chính và quản lý hoạt động giáo dục.

- Chuyển mạnh từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường trách nhiệm tự kê khai và tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân. Cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định của Nghị định và xử lý theo thẩm quyền khi phát hiện các trường hợp không bảo đảm quy định.

- Việc giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện trên môi trường điện tử, bảo đảm công khai, minh bạch, giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho tổ chức, cá nhân.

- Cơ quan có thẩm quyền không được yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại thông tin, dữ liệu, giấy tờ đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc đã được số hóa theo quy định.

- Khi tổ chức thẩm định, cơ quan chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xác minh điều kiện chuyên ngành theo quy định của pháp luật. Chỉ thẩm định thực tế trong trường hợp hồ sơ, thông tin, dữ liệu không đủ để đánh giá, xác minh điều kiện chuyên ngành theo quy định. Việc thẩm định thực tế phải bảo đảm công khai, minh bạch, không làm phát sinh thủ tục, thành phần hồ sơ, kéo dài thời gian giải quyết hoặc làm tăng chi phí tuân thủ không cần thiết.

- Việc công khai thông tin theo quy định tại Nghị định này phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó, tại Nghị định quy định về điều kiện thành lập hoặc cho phép thành lập trường mầm non như sau:

- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nơi trường đặt trụ sở.

- Có địa điểm dự kiến xây dựng trường phù hợp với quy hoạch của địa phương hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp không phải là công trình giáo dục và đào tạo, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích giáo dục và đào tạo, đồng thời, đáp ứng các tiêu chuẩn về địa điểm, quy mô, diện tích đối với trường mầm non theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt, diện tích sàn xây dựng được tính tương đương diện tích đất nhưng không thấp hơn diện tích đất bình quân tối thiểu cho một trẻ em theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Ngoài ra, tại Nghị định quy định về điều kiện cấp phép hoạt động giáo dục đối với trường mầm non như sau:

- Có cơ sở vật chất tối thiểu, đồ dùng, đồ chơi, học liệu, thiết bị dạy học đáp ứng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đối với trường mầm non dân lập, tư thục (bao gồm cả trường mầm non do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên chính phủ đề nghị) phải có lộ trình bảo đảm cơ sở vật chất tối thiểu đáp ứng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với quy mô dự kiến cao nhất của nhà trường.

- Có đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giáo viên, nhân sự hỗ trợ giáo dục và người lao động bảo đảm đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm để tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non.

- Có nguồn lực tài chính để bảo đảm duy trì và phát triển hoạt động giáo dục:

(1) Đối với trường mầm non tư thục, mức đầu tư ít nhất là 30 triệu đồng/01 trẻ (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Tổng số vốn đầu tư ít nhất được tính toán căn cứ vào thời điểm có quy mô dự kiến cao nhất của nhà trường. Kế hoạch vốn đầu tư phải phù hợp với quy mô dự kiến của từng giai đoạn.

Trường hợp trường mầm non tư thục không xây dựng cơ sở vật chất mới mà chỉ thuê lại hoặc sử dụng cơ sở vật chất sẵn có để triển khai hoạt động thì mức đầu tư ít nhất phải đạt 70% mức đầu tư quy định tại điểm (1) này;

(2) Đối với trường mầm non công lập, dân lập, nguồn lực tài chính do cơ quan quản lý có thẩm quyền hoặc cộng đồng dân cư ở cơ sở chịu trách nhiệm bảo đảm nhằm tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non theo quy định./.

                                                        Tác giả: Thuý Vi