Ngày 03 tháng 9 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 343/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và ngăn chặn xung đột thông tin trên không gian mạng.
Theo đó, nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và ngăn chặn xung đột thông tin trên không gian mạng được quy định như sau:
- Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị Quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền. Đối với các nội dung giao thoa, hai Bộ thống nhất quy chế phối hợp.
- Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng theo Nghị định này thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng và đối với hệ thống thông tin quân sự, các nội dung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng theo quy định của pháp luật.
- Bộ Quốc phòng thống nhất tổ chức thực hiện nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự theo quy định của pháp luật về an ninh mạng và pháp luật có liên quan; phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng.
- Việc kết nối, cung cấp, chia sẻ thông tin, tài liệu phục vụ bảo vệ an ninh mạng phải bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước và không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
- Việc bảo đảm an ninh dữ liệu trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng phải được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời dữ liệu; áp dụng biện pháp quản lý và biện pháp kỹ thuật phù hợp với mức độ phân loại dữ liệu, cấp độ hệ thống thông tin quân sự và yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
- Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xung đột thông tin trên không gian mạng; kịp thời phát hiện, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng, không để xảy ra chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng dưới mọi hình thức.
- Nghiêm cấm lợi dụng, lạm dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức, cá nhân vi phạm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, tại Nghị định cũng quy định sản phẩm an ninh mạng, bao gồm:
- Sản phẩm kiểm tra, đánh giá an ninh mạng gồm các thiết bị phần cứng, phần mềm có các chức năng cơ bản sau: Rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro an ninh mạng;
- Sản phẩm giám sát an ninh mạng gồm các thiết bị phần cứng, phần mềm có các chức năng cơ bản sau: Giám sát, phân tích dữ liệu lưu trữ, truyền trên hệ thống thông tin; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng;
- Sản phẩm chống tấn công, xâm nhập gồm các thiết bị phần cứng, phần mềm có chức năng cơ bản ngăn chặn tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin;
- Các sản phẩm an ninh mạng khác theo quy định của Bộ Quốc phòng.
Đồng thời, Nghị định cũng quy định về dịch vụ an ninh mạng, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra, đánh giá an ninh mạng gồm dịch vụ rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro mất an ninh mạng;
- Dịch vụ bảo mật thông tin không sử dụng mật mã dân sự gồm dịch vụ hỗ trợ người sử dụng bảo đảm tính bí mật của thông tin, hệ thống thông tin mà không sử dụng hệ thống mật mã dân sự;
- Dịch vụ tư vấn an ninh mạng gồm dịch vụ hỗ trợ tư vấn, kiểm tra, đánh giá, triển khai, thiết kế, xây dựng các giải pháp bảo đảm an ninh mạng;
- Dịch vụ giám sát an ninh mạng gồm dịch vụ giám sát, phân tích lưu lượng dữ liệu truyền trên hệ thống thông tin; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng;
- Dịch vụ ứng cứu sự cố an ninh mạng để xử lý, khắc phục sự cố gây mất an ninh mạng đối với hệ thống thông tin;
- Dịch vụ khôi phục dữ liệu trong hệ thống thông tin đã bị xóa hoặc hư hỏng;
- Dịch vụ phòng ngừa, chống tấn công mạng để ngăn chặn các hành vi tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin thông qua việc giám sát, thu thập, phân tích các sự kiện đang xảy ra trên hệ thống thông tin;
- Dịch vụ điều tra và phân tích số gồm dịch vụ thu thập, bảo quản, phân tích và phục hồi dữ liệu hoặc chứng cứ điện tử phục vụ xử lý sự cố an ninh mạng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật;
- Dịch vụ đào tạo và diễn tập an ninh mạng gồm dịch vụ đào tạo, huấn luyện, nâng cao nhận thức; tổ chức diễn tập tình huống để tăng cường năng lực bảo đảm an ninh mạng;
- Các dịch vụ an ninh mạng khác theo quy định của Bộ Quốc phòng.
Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phải có giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng theo quy định của pháp luật về an ninh mạng. Sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng cung cấp cho Bộ Quốc phòng phục vụ nhiệm vụ quân sự được miễn thực hiện thủ tục xin cấp phép của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và không bắt buộc phải thể hiện thông tin trên Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý đối với sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng quy định tại Điều này và có trách nhiệm sau:
- Ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quản lý chất lượng;
- Đăng ký, chỉ định và quản lý hoạt động của các tổ chức chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy;
- Quản lý và cấp phép hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng;
- Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phục vụ nhiệm vụ quân sự.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 03 tháng 9 năm 2026./.
Tác giả: Hồng Vân


.jpg)






