Tiểu phẩm NHÀ KHÔNG KHÓI THUỐC

Tiểu phẩm:

NHÀ KHÔNG KHÓI THUỐC

* Cơ sở pháp lý: Điều 7 - Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá (Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tác hại của thuốc lá).

* Nội dung chủ đề: “Quyền và nghĩa vụ công dân trong xây dựng môi trường không khói thuốc”.

NHÂN VẬT

- Ông Hai Lẫm      - 62 tuổi - Nông dân (nghiện thuốc lá lâu năm)

- Bà Hai Lẫm        - 60 tuổi - Nội trợ (Thương chồng nhưng khó chịu vì thuốc lá)

- Út Thử                - 22 tuổi - Sinh viên Luật (con gái ông, bà Hai)

- Anh Ba Hội        - 53 tuổi -  Trưởng Ban Nhân dân ấp

- Ông Năm Luận   - 57 tuổi - Nông dân (tính hài hước - hàng xóm của ông Hai)

- Bà Sáu                - 50 tuổi - Bán bánh (hàng xóm của ông Hai)

- Bà Tư                 - 55 tuổi - Nông dân (hàng xóm của ông Hai)

- Một số người dân trong xóm.

NỘI DUNG KỊCH

CẢNH 1

(Bối cảnh: Sân nhà Ông Hai Lẫm buổi sáng. Mái lá, hàng cau trước ngõ, gà vịt chạy tán loạn, ghe xuồng ngoài sông í ới; tiếng ve kêu râm ran…)

(Đèn sân khấu sáng. Ông Hai Lẫm ngồi trên chiếc võng tre, tay cầm điếu thuốc rê đang châm lửa. Khói thuốc tỏa ra nghi ngút. Một bên, Bà Hai lom khom cho gà ăn - Tiếng vịt kêu quang quác…)

Ông Hai     (hít một hơi thật sâu, lim dim mắt, phà khói ra): Ờ… khói thuốc rê quê mình, coi bộ thơm hơn cả trà Thái Nguyên. Hút vô một hơi, thấy nhớ lại hồi trai trẻ, đi gặt lúa, đi đắp đập, cứ rít một hơi là tỉnh cả người.

Bà Hai        (bỏ nắm lúa xuống - nhăn mặt): Trời đất ơi! Ông hút gì mà như hun khói mấy con gà vịt của tui vậy? Nè, ông coi kìa, khói um sùm, tụi nhỏ hít vô chắc bệnh hết trơn quá!

Ông Hai     (cười khà khà): Bà nói quá! Tía sanh mẹ đẻ tới giờ, tui sống bằng hơi thuốc này đó. Không có nó, chắc tui còn mệt hơn!

Bà Hai        (liếc ông Hai): Ông coi đó, cái miệng thì nói khỏe, mà mới hôm qua ông ho sặc sụa, ôm bụng kêu đau, tui tưởng ông “đi” luôn rồi chớ.

(Bên ngoài có tiếng rao vọng vào)

Bà Sáu:       Ai bánh bò, bánh chuối, bánh cam hông? Bánh mới hấp nè… nóng hổi luôn bà con ơi!...

Bà Hai        (vẫy tay): Vô đây, vô bán cho tui vài cái bánh bò cô Sáu ơi!...

(Bà Sáu đẩy xe vô, vừa bán vừa nhăn mặt vì khói thuốc bay mịt mù)

Bà Sáu:       Trời ơi bác Hai ơi, bác hút chi dữ vậy? Con vô đây mà muốn ngộp thở, khói bay mù mịt, y chang như hồi đó ba con ung khói cho bầy trâu sau nhà vậy đó.

Bà Hai:       Thấy chưa ông! Người ngoài còn than, huống chi vợ con.

Ông Hai     (xua tay, cười xòa): Thì hút chút đỉnh cho vui, có ai chết đâu mà sợ dữ vậy? Thiệt tình!…

(Tiếng xe máy dừng trước ngõ. Út Thử từ xa về, mặc áo sơ mi trắng, tay xách ba-lô. Cô bước vô, vừa đi vừa ho khù khụ)

Út Thử:      Tía ơi, trời đất ơi! Con mới vừa về đã muốn quay xe đi rồi. Nhà mình sao toàn mùi thuốc lá vậy?

Ông Hai     (vui mừng): Ủa, con Thử! Về hồi nào vậy? Lại đây Tía ôm cái coi.

(Ông đứng dậy, còn điếu thuốc cháy dở trên tay. Thử né sang một bên, đưa tay che mũi)

Út Thử:       Thôi Tía ơi, Tía đừng ôm con bằng khói thuốc! Tía có biết hông, theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá thì công dân có quyền được sống, làm việc trong môi trường không khói thuốc lá đó!

Ông Hai     (ngạc nhiên): Ủa, cái đó cũng đưa vô luật luôn hả con? Tía tưởng luật chỉ cấm chỗ công cộng thôi, chớ trong nhà mình thì đâu có sao.

Út Thử:       Không đơn giản vậy Tía à. Ở đâu cũng cần bảo vệ sức khỏe. Tía hút thuốc trong nhà, vợ con, cháu chắt đều hít phải khói thuốc. Người ta gọi là “hút thuốc thụ động”. Nó còn hại hơn Tía hút nữa đó.

Bà Hai        (chêm vô, giọng mỉa mai): Ờ đó, má bị ho mấy tháng nay cũng vì ổng đó con gái. Bác sĩ còn la hoài...

Bà Sáu        (gật gù): Con bán hàng ngoài chợ nghe mấy bà bạn kể, chồng hút thuốc, vợ con bị viêm phổi hoài.

Bà Hai:       Ông nghe chưa?

Ông Hai      (xua tay, cố chấp): Thì… thôi mà. Bà nói vậy chớ ngày xưa lúc đi coi mắt bà, tui cũng hút phà phà đó thôi…Bà con khen mùi thuốc thơm nữa đó!

Bà Hai:       Ờ thì hồi đó còn trẻ, còn khờ, đâu ai biết. Giờ có luật, có con gái là sinh viên ngành luật và nghe bác sĩ nói, nhất là hậu quả của nhiều người hút thuốc do tivi đưa tin nên mới biết…Còn ông, cứng đầu cứng cổ hoài.

(Ông Năm Luận - hàng xóm, nghe ồn ào, ghé qua cười hề hề)

Ông Năm Luận: Ủa, xóm mình có đám giỗ gì sao la rần rần vậy? À… té ra là “đám khói thuốc” nhà anh Hai…(Giả bộ quạt khói) Tui đi ngang thôi cũng cay mắt rồi nghen!

Út Thử:       Chú Bảy à, con vừa nói với Tía con đó. Luật quy định công dân có quyền yêu cầu người khác không hút thuốc tại nơi có quy định cấm. Và còn nghĩa vụ vận động người khác bỏ thuốc nữa.

Ông Năm Luận: Vậy chắc tui có quyền xin anh Hai dẹp điếu thuốc rồi. Anh hút, tui phải trả tiền… thuốc men chữa bệnh xiểng của tui thì ai chịu?

(Mọi người cười. Ông Hai hơi quê, gãi đầu - dụi điếu thuốc)

Ông Hai:     Thôi…để Tía nghe con nói tiếp. Nhưng mà bỏ liền thì… khó à nghen!

Út Thử:       Tía ơi!... Thuốc lá là kẻ thù, không ai thương mình bằng người thân ruột thịt. Tía thương má, thương tụi con thì Tía ráng bỏ. Mình giữ sức khỏe cũng là giữ hạnh phúc gia đình, giữ cái nghĩa xóm giềng nữa đó Tía.

Bà Hai:       Đó, ông có nghe con Út nói chưa? Làm cha mà để con cái góp ý như vậy ông không mắc cỡ sao?

Ông Hai     (bực mình): Thì từ từ tôi bỏ chớ bỏ ngang liền sao được. bà mà ép quá thà tôi bỏ vợ chớ không có bỏ thuốc đâu à!

Bà Hai        (bực): Ông nói cái gì, từng tuổi này mà ông còn định sanh tật nữa hả?

Ông Hai:    Tôi sanh tật hồi nào?

Bà Hai:       Vậy ai mới nói thà bỏ vợ chớ không bỏ thuốc đó?

Ông Hai:     Ai biểu bà ép tôi chi? (Bỏ đi ra ngoài).

Bà Hai        (gọi theo): Ông, ông!...

Út Thử:      Tía, Tía!...

Ông Năm Luận: Rồi, chiến tranh xảy ra vì khói thuốc!

(Âm nhạc - cắt cảnh)

CẢNH 2

(Quán cà phê ven sông, sáng sớm. Khung cảnh đậm chất miền Tây: ghe xuồng neo dưới bến, bàn ghế tre, khách ngồi nhâm nhi cà phê, tiếng vọng cổ từ chiếc radio cũ. Trên tường có tấm bảng lớn: “CẤM HÚT THUỐC LÁ - VÌ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG”.

(Ông Hai cùng ông Năm Luận bước vô, ngồi xuống bàn - Chủ quán bưng cà phê ra).

Bà Tư:        Mời hai anh ngồi!... Quán tui giờ treo bảng cấm hút thuốc nghen, khách tới uống cà phê cho khỏe, không muốn bị khói thuốc làm phiền.

Ông Năm Luận: Ờ, tui biết. Mấy bữa nay quán sạch sẽ, không khói thuốc, uống cà phê thấy ngon miệng hơn hẳn.

Ông Hai     (liếc tấm bảng, lẩm bẩm): Cấm hút thuốc? Ờ… mà lâu lâu làm một điếu cho tỉnh táo thì có sao đâu? (Lén rút điếu thuốc - châm lửa).

(Khói bốc lên - Vài khách ngồi gần nhăn mặt, ho sù sụ)

Khách 1:     Anh kia! Bộ anh không thấy bảng “CẤM HÚT THUỐC” treo lù lù đó sao?

Ông Hai     (cười gượng): Ờ… tui hút chút xíu thôi, chớ có làm gì đâu.

Khách 2      (bức xúc): Không được! Chúng tôi có quyền được sống trong môi trường không có khói thuốc. Anh hút ở đây là vi phạm, anh coi thường sức khỏe của người khác đó!

Ông Năm Luận: Thôi anh Hai ơi, dụi điếu thuốc đi, coi bộ bà con giận dữ lắm đó!

Ông Hai     (cãi lại): Thì tui hút cho tui, đâu có ép ai hít theo!

Út Thử       (từ phía sau bước vào, nhìn thấy Tía, sững người): Trời ơi, Tía! Tía hứa với con rồi mà. Tía quên Luật rồi sao? Điều 7 quy định rõ: Công dân có quyền “Yêu cầu người hút thuốc lá không hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá. Nếu Tía không tôn trọng, người ta hoàn toàn có quyền báo chính quyền đó.

Khách 1:     Đúng đó! Nếu quán không xử lý, chúng tôi sẽ phản ánh lên ấp, lên xã. Không thể để chuyện này tái diễn.

Bà Tư         (bước tới): Anh Hai à, tui nể tình bà con lối xóm nên mới nhắc nhở nhẹ. Nhưng anh cố tình thì tui buộc phải báo Trưởng ấp. Quán tui có treo bảng rõ ràng, mà anh coi thường vậy sao?

Ông Hai     (bối rối, dụi điếu thuốc): Ờ… tui xin lỗi bà con! Tại tui quen rồi, nên… quên mất.

Khách 2:     Anh không thể lấy lý do “quen” để hại sức khỏe người khác. Thuốc lá không chỉ hại bản thân anh, mà còn hại tới những người xung quanh, kể cả trẻ em, phụ nữ có thai.

Út Thử:       Tía ơi, Tía coi đó, mọi người phản ứng gay gắt vì luật bảo vệ sức khỏe chung. Tía thương gia đình, thương hàng xóm thì Tía phải bỏ. Đừng để một điếu thuốc làm Tía mất uy tín, mất tình cảm bà con.

Ông Năm Luận: Ờ, anh Hai ơi!... Ở xóm mình, người ta nhớ nhau vì chén cà phê, tiếng hò trên sông, chớ ai đâu muốn nhớ… vì khói thuốc của anh!

(Cả quán cười nhẹ - xua bớt căng thẳng)

Ông Hai      (thở dài, nhìn quanh): Thôi được, ..tui xin lỗi thiệt lòng! Từ nay, tui hứa trước mặt bà con quán cà phê này: tui sẽ không hút thuốc ở chỗ cấm nữa. Nếu bà con thấy tui tái phạm, cứ báo thẳng cho Trưởng ấp, tui không cãi đâu.

Khách 1:     Vậy thì tốt. Chúng tôi cần sự tôn trọng.

Bà Tư:        Ờ, tui tin anh Hai nói sẽ giữ lời mà, quán tui lúc nào cũng chào đón.

(Út Thử thở phào, bước tới nắm tay Tía. Không khí dần dịu lại. Tiếng sóng vỗ ngoài bến sông vang lên, xen lẫn tiếng vọng cổ trên radio: “Bỏ thuốc lá - giữ niềm vui, giữ sức khỏe cho đời…”).

CẢNH 3

(Buổi chiều, tại sân Nhà văn hoá ấp. Băng rôn treo trên cao: “HỌP DÂN TUYÊN TRUYỀN - PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ”. Bà con lối xóm ngồi đông đủ. Anh Ba Hội - Trưởng ấp cầm micro, giọng sang sảng).

Anh Ba Hội: Bà con mình ơi!... Hôm nay ấp ta họp để bàn chuyện “phòng, chống tác hại của thuốc lá”. Đây là việc quan trọng, liên quan tới sức khỏe của từng gia đình, của cả cộng đồng. Theo Khoản 2, Điều 7 - Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, mỗi công dân có quyền được sống trong môi trường không khói thuốc, có nghĩa vụ vận động người khác không hút, cai nghiện thuốc, và có trách nhiệm phản ánh, tố cáo khi có vi phạm.

(Bà con gật gù - xì xào)

Bà Sáu:       Ờ, tui nghe mà mừng bụng. Nhà có thằng cháu mới ba tuổi, cứ vô nhà Ông Hai là nó ho sặc sụa vì khói thuốc. Bây giờ có luật bảo vệ, tui thấy an tâm phần nào.

Bà Tư: Đâu chỉ riêng nhà cô Sáu. Con gái tôi nó bán quán nước ngoài chợ, mấy ông vô hút thuốc, khách khác bỏ đi, ế ẩm thấy mồ luôn! Nhưng nó không dám nói vì sợ phật lòng khách.

Anh Ba Hội: Đúng vậy. Luật là để bảo vệ tất cả chúng ta. Nhưng tôi nói thiệt, trong xóm mình cũng còn vài người chưa chấp hành nghiêm. Có khi hút trong quán cà phê, có khi hút ngay chỗ có bảng cấm.

(Bà con xì xào, nhìn về phía ông Hai. Ông Hai ngồi lẫn trong hàng ghế, lúng túng, mặt đỏ bừng. Bà Hai ngồi kế bên, cứ thúc cùi chỏ vô hông chồng).

Bà Hai:       Ông nghe chưa, chú Ba Hội - Trưởng ấp nhắc tới ông đó. Tui nói hoài mà ông đâu chịu nghe. Giờ mất mặt cả xóm chưa?

Ông Năm Luận (đứng dậy, nửa đùa nửa thật): Tôi xin phép nói. Bữa kia tôi đi uống cà phê với anh Hai ở quán cô Tư, thấy ổng rút thuốc hút ngay dưới bảng “cấm”. Khách phản ứng rần rần, làm tui quê muốn độn thổ! May mà có con Thảo can thiệp, chớ không là chuyện tới chính quyền rồi.

(Tiếng bà con xì xầm rộ lên, chỉ trỏ. Ông Hai cúi gằm mặt, vò cái nón trong tay)

Khách 1:     Bữa đó tui có mặt. Tôi tức muốn báo liền, mà thấy con gái ổng can ngăn nên thôi.

Khách 2:     Luật quy định phải nghiêm chớ! Luật đâu phải để… treo chơi. Ai cũng vi phạm thì sức khỏe cộng đồng ai bảo vệ?

Ông Hai     (đứng lên): Bà con… tui xin nhận lỗi! Tui quen hút thuốc mấy chục năm rồi, bỏ khó dữ lắm. Tui đâu có ý muốn hại ai. Nhưng đúng là bữa đó tui sai. Tui lỡ, chớ không phải tui cố tình chống luật.

Út Thử:      Tía ơi, Tía phải hiểu. “Lỡ” cũng là vi phạm. Khoản 4, Điều 7 còn ghi: công dân có quyền “Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá”. Nếu Tía tái phạm, người ta phản ánh lên xã, Tía không chỉ mất uy tín mà còn bị xử phạt hành chính nữa đó!

Bà Sáu:       Phải đó! Luật còn cho phép người dân “Phản ánh hoặc tố cáo cơ quan, người có thẩm quyền không xử lý hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá” nữa kìa. Không ai đứng trên luật đâu anh Hai!

Anh Ba Hội: Cô Sáu nói đúng rồi! Đó là quy định tại Khoản 5, Điều 7 đó bà con!

Ông Hai:    Thôi… bà con cứ nói đi, tui nghe hết!... Tui thấy mình hổ thẹn quá. Tui hứa trước mặt bà con, từ nay tui sẽ không hút thuốc ở nơi công cộng nữa. Nếu bà con bắt gặp tui vi phạm, tui chịu bị xử lý, không kêu ca.

(Bà con vỗ tay - nhưng vẫn còn người xì xào)

Bà Tư:        Nói thì dễ nhưng làm mới khó à nghen! Hôm nay hứa, mai mốt thèm thuốc lại đâu vào đó thì tính sao hả anh Hai?

Mọi người (cùng nói): Đúng rồi!...

Anh Ba Hội  (giơ tay ra hiệu trật tự): Bà con, thôi mình cũng thông cảm vì ai thuốc đâu phải dễ. Nhưng quan trọng là có quyết tâm. Tôi đề nghị: từ nay, tổ hòa giải, hội phụ nữ, đoàn thanh niên cùng theo dõi, hỗ trợ anh Hai cai thuốc. Cả xóm mình cùng vận động, cùng nhắc nhở.

Út Thử:      Đúng đó!... Tía cần sự đồng hành của mọi người. Tía, Tía ráng vì má, vì con, vì cả xóm mình.

Bà Hai:       Ông bỏ thuốc, tui mới yên lòng. Tiền mua thuốc để dành mua sữa cho cháu, mua phân bón cho ruộng… chớ đâu mất mát gì.

(Không khí lắng xuống - ông Hai xúc động, gật đầu. Bà con vỗ tay, tiếng nhạc dân ca cất lên: “Khói thuốc bay xa, tình làng nghĩa xóm mới đậm đà…”).

(Trở lại nhà Ông Hai Lẫm - chiều muộn. Trước nhà, có cái bảng treo mới tinh: NHÀ KHÔNG KHÓI THUỐC. Bà Hai loay hoay quét sân, Út Thử kê bàn trà; một vài hàng xóm tụ tập - tiếng trẻ con nô đùa, tiếng đàn cò xa xa…. ông Hai cầm cái bảng, còn chần chừ chưa treo).

Bà Hai:       Ông treo lẹ đi, còn chần chờ gì nữa? Cả xóm người ta theo dõi coi ông nói có giữ lời hay không kìa!

Ông Hai     (ngại ngùng): Ờ thì… treo thì cũng treo. Nhưng tui sợ mai mốt thèm quá, lỡ hút lại thì… mang tiếng thêm.

Út Thử:      Tía! Chính vì Tía sợ tái phạm nên mới cần cái bảng này. Nó nhắc Tía, nhắc cả nhà, nhắc luôn hàng xóm. Người ta thấy bảng, người ta có quyền nhắc Tía. Đó là cách Tía giữ lời hứa với cộng đồng.

(Ông Năm Luận bước vô, tay cầm con cá lóc nướng - cười hề hề)

Ông Năm Luận: Ủa, treo bảng hả? Vậy bữa nào tui qua nhậu chắc không được hút nữa hén?

Ông Hai     (cười nhẹ): Ờ, khỏi hút cũng nhậu được. Có cá lóc nướng, có ca vọng cổ, có đàn kìm là vui rồi. Khói thuốc chi cho mất vui!

Ông Năm Luận: Vậy là tốt!... Anh bỏ thuốc, chị Hai khỏi cằn nhằn, cả xóm khỏi “ngộp thở”… Tui mừng dữ lắm!

(Lúc này, anh Ba cùng mấy bà con khác đi vào - tay cầm cuốn sổ ghi chép)

Anh Ba Hội: Tôi nghe tin anh Hai treo bảng “Nhà không khói thuốc”, tôi dẫn bà con tới chứng kiến, coi như lễ ra mắt nho nhỏ.

Bà Sáu:       Vậy là từ nay dắt cháu qua chơi, tui khỏi lo nó hít khói thuốc nữa.

Ông Hai     (hơi ngượng): Tui thú thiệt, mấy bữa nay thèm thuốc dữ lắm. Nhưng nhớ lời bà con la rầy, nhớ ánh mắt con gái nhìn mình thất vọng, tui… bỏ không dám đụng. Bữa nay treo cái bảng này, coi như… đóng đinh lời hứa.

(Ông cầm búa, đóng bảng lên trước cửa. Tiếng búa “cốc, cốc” vang lên, bà con vỗ tay rần rần).

Út Thử:      Tía ơi, Tía vừa làm điều lớn lắm. Tía không chỉ giữ gìn sức khỏe bản thân, mà còn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ công dân theo Điều 7 - Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Anh Ba Hội: Đúng rồi! Cái bảng kia đâu chỉ cho nhà anh Hai mà còn là tấm gương cho cả ấp. Tôi mong sau tấm gương bỏ thuốc lá anh Hai sẽ có nhiều nhà khác treo bảng như vậy.

Ông Năm Luận (bỗng cất giọng hò):

Hò ơ… “Khói thuốc bay xa, làm xóm giềng khó thở…

Bỏ thuốc đi rồi, tình nghĩa lại đậm sâu…”!

(Bà con cười vang, phụ họa bằng tiếng vỗ tay, tiếng hò rộn ràng - không khí vui tươi).

Bà Hai        (xúc động): Ông bỏ thuốc, tui mừng hơn trúng mùa. Từ nay, nhà mình trong lành, con cháu khỏe mạnh, tui khỏi lo nữa.

Ông Hai     (nhìn vợ con, rồi nhìn bà con): Tui xin cảm ơn tất cả mọi người! Tui hứa trước mặt bà con, tui sẽ bỏ thuốc thiệt. Tui biết, bỏ thuốc không chỉ là chuyện của cá nhân tui, mà còn là trách nhiệm với gia đình, xóm giềng, với cộng đồng!

(Âm nhạc trỗi lên: nhạc cải lương vọng cổ ngọt ngào. Đèn chiếu sáng cái bảng “NHÀ KHÔNG KHÓI THUỐC”).

Chị Sáu      (ngẫu hứng ca đoạn vọng cổ - dứt hò câu 4): 

“Thuốc lá hại thân - hại cả tình làng nghĩa xóm,

Bỏ thuốc hôm nay mai này sức khỏe thêm bền…”.

(Cả nhóm vỗ tay cười vui vẻ - không khí chan hòa - âm nhạc vui tươi, ấm áp).

 

- HẾT-